Ngày 20-05-2019 06:48:55
 


Mọi chi tiết xin liên hệ với trường chúng tôi theo mẫu dưới :
Họ tên
Nội dung
 

Lượt truy cập : 4862426
Số người online: 18
 
 
 
 
ĐỀ ÔN THI THPT QUỐC GIA NĂM 2017 MÔN NGỮ VĂN
 

 

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP THI THỬ THPTQG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG

NĂM HỌC 2018 – 2019

MÔN: NGỮ VĂN 12


PHẦN I: ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

  1. Ở phần này, các em cần nắm những kiến thức như sau:

1/ Các phong cách ngôn ngữ

  • Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: tính cá thể; tính sinh động, cụ thể; tính cảm xúc.

  • Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: tính thẩm mỹ; tính đa nghĩa; dấu ấn riêng của tác giả.

  • Phong cách ngôn ngữ báo chí: tính thông tin thời sự; tính ngắn gọn; tính sinh động, hấp dẫn.

  • Phong cách ngôn ngữ chính luận: tính công khai về chính kiến, lập trường, tư tưởng chính trị; tính chặt chẽ trong lập luận; tính truyền cảm mạnh mẽ.

  • Phong cách ngôn ngữ khoa học: tính khái quát, trừu tượng; tính lí trí, logic; tính khách quan, phi cá thể.

  • Phong cách ngôn ngữ hành chính: Tính khuôn mẫu; tính minh xác; tính công vụ

2/ Các thao tác lập luận

  • Thao tác lập luận so sánh

  • Thao tác lập luận phân tích

  • Thao tác lập luận bình luận

  • Thao tác lập luận bác bỏ

  • Thao tác lập luận chứng minh

  • Thao tác lập luận giải thích

3/ Một số biện pháp tu từ thường gặp

  • So sánh, nhân hóa, đảo ngữ, câu hỏi tu từ

  • Ẩn dụ, hoán dụ, ngoa dụ (thậm xưng, cường điệu, phóng đại, nói quá)

  • Phép điệp: điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc (điệp cú pháp)

  • Nói giảm nói tránh, liệt kê…

4/ Các phương thức biểu đạt (kiểu văn bản)

  • Tự sự

  • Miêu tả

  • Biểu cảm

  • Nghị luận

  • Thuyết minh

  • Điều hành

5/ Một số kiến thức khác

Ngoài ra, học sinh cần phải nắm thêm kiến thức về các thể thơ, các kiểu câu, các từ loại trong tiếng Việt.

PHẦN II: NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

 

A.CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11:

 

TỪ ẤY

- Tố Hữu -


I. Kiến thức cơ bản:

1. Tác giả:

- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại. Thơ Tố Hữu có chỗ đứng nhiều nhất trong lòng công chúng cách mạng bởi một phong cách trong sáng, đam mê và chân thật, bằng một chất giọng ngọt ngào, đằm thắm.

*  Đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu:

– Về nội dung, thơ Tố Hữu là thơ trữ tình- chính trị :

+ Thơ Tố Hữu luôn gắn liền và tìm đến với những biểu hiện của chủ nghĩa anh hùng nên mang đậm chất sử thi và dạt dào cảm hứng lãng mạn.

+ Thơ Tố Hữu có chất giọng tâm tình, ngọt ngào, truyền cảm và đầy sức hấp dẫn.

– Về nghệ thuật, thơ Tố Hữu mang đậm tính dân tộc:

+ Hiện thực cách mạng được nhà thơ nhìn và phản ánh theo truyền thống đạo lí và tình cảm của cha ông.

+ Tố Hữu sử dụng nhuần nhuyễn thể thơ dân tộc như lục bát, song thất lục bát, thơ bảy chữ nên dễ đi vào lòng người.

+ Các biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh, sử dụng chất liệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ…hình thành tính dân tộc đậm nét trong thơ ông.

+ Tố Hữu phát huy cao độ tính nhạc trong ngôn ngữ tiếng Việt. Nhạc điệu du dương, lời thơ tâm tình, ngọt ngào, nên thơ Tố Hữu dễ ngâm, dễ hát đó cũng là nét truyền thống dân tộc.

2. Tác phẩm:

a. TỪ ẤY

* Hoàn cảnh ra đời:

- Bài thơ “Từ ấy” được Tố Hữu viết vào tháng 7/1938, bài thơ ghi lại những cảm xúc, suy tư sâu sắc khi Tố Hữu được đứng vào hàng ngũ của Đảng.

* Ý nghĩa nhan đề:

- Đánh dấu mốc son chói lọi trong cuộc đời hoạt động cách mạng của nhà thơ Tố Hữu.

- Thể hiện niềm vui sướng hân hoan của nhà CM trẻ tuổi lần đầu tiên bắt gặp lí tưởng của Đảng, của cách mạng và nguyện dấn thân vào con đường máu lửa ấy.

* Nội dung:

- Khổ 1: Niềm vui lớn:

+ Hai câu đầu: là mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi nhà thơ được giác ngộ lí tưởng cách mạng ( chú ý động từ bừng; những hình ảnh ẩn dụ "nắng hạ" "mặt trời chân lí" đã nhấn mạnh: ánh sáng lí tưởng mở ra trong tâm hồn nhà thơ một chân trời mới của nhận thức, tư tưởng và tình cảm)

+ Hai câu sau: cụ thể hóa ý nghĩa, tác động của ánh sáng lí tưởng.

Liên tưởng, so sánh: " Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim"

Thể hiện vẻ đẹp và sức sống mới của tâm hồn cũng là của hồn thơ Tố Hữu.

- Khổ 2: Lẽ sống lớn:

Ý thức tự nguyện và quyết tâm vượt qua giới hạn của cái tôi cá nhân để sống chan hòa với mọi người, với cái ta chung ( chú ý từ "buộc", "trang trải", "trăm nơi") để thực hiện lí tưởng giải phóng giai cấp, dân tộc. Từ đó, khẳng định mối liên hệ sâu sắc với quần chúng nhân dân.

- Khổ 3: Tình cảm lớn.

Từ những nhận thức sâu sắc về lẽ sống mới tự xác định mình là thành viên của đại gia đình quần chúng lao khổ ( sử dụng điệp từ "là" kết hợp với những từ "con", "em", "anh" để nhấn mạnh tình cảm thân thiết như người trong cùng một gia đình)

* Nghệ thuật:

- Hình ảnh tươi sáng, giàu ý nghĩa tượng trưng.

- Ngôn ngữ gợi cảm, giàu nhạc điệu.

- Giọng thơ sảng khoái, nhịp điệu thơ hăm hở...

* Ý nghĩa văn bản:

- Niềm vui lớn, lẽ sống lớn trong buổi đầu gặp gỡ lí tưởng cộng sản.

CHIỀU TỐI

- Hồ Chí Minh -

I. Kiến thức cơ bản:

1) Kiến thức về tác giả:

- Hồ Chí Minh (1890-1969) là một nhà cách mạng vĩ đại, một danh nhân văn hóa thế giới đồng thời cũng là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc

- Phong cách thơ: Phong cách thơ đa dạng, phong phú. Những bài thơ nghệ thuật viết theo cảm hứng thẩm mĩ hầu hết là thơ tứ tuyệt cổ điển, bằng chữ Hán, mang đặc điểm của thơ cổ phương Đông với sự kết hợp hài hòa giữa màu săc cổ điển với bút pháp hiện đại.

2. Kiến thức về tác phẩm:

-  Hoàn cảnh sáng tác:m Bác sáng tác vào cuối mùa thua năm 1942, trên con đường chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo.

- Xuất xứ của bài thơ: Là bài thơ thứ 31 của tập Nhật kí trong tù

b. Tìm hiểu chi tiết tác phẩm:

b.1. Hai câu đầu: Bức tranh thiên nhiên chiều tối nơi rừng núi.

- Khung cảnh thiên nhiên nơi núi rừng khi chiều muộn với cánh chim mệt mỏi tìm chốn ngủ, và chòm mây cô đơn lững lờ giữa tầng không đã được phác họa bằng những nét chấm phá theo bút pháp cổ điển, người đọc vẫn cảm nhận được cảnh núi rừng chiều thật âm u, không hệ gợi âm thanh mà nghe thật vắng vẻ và quạnh hiu.

- Với dôi nét chấm phà theo bút pháp cổ điển, bức tranh núi rừng khi chiều tối đã hiện ra rõ nét. Trong khung cảnh núi rừng lúc trời sắp tối, những cảnh chim mỏi mệt đang tìm về tổ ấm. Trên lưng trời là vài chòm mây chầm chậm trôi qua. Vì chiều là thời gian của một ngày tàn nên mọi vận động của thiên nhiên đều nhẹ nhàng, có phần mệt mỏi. Bức tranh phong cảnh tuy đẹp và nên thơ nhưng vẫn có nét buồn. Mỗi nỗi niềm man mác, bâng khuâng trải ra với bầu trời cao rộng, với cánh chim rong ruổi tìm chốn ngủ trong mệt mỏi, với chòm mây lẻ loi, cô đơn. Trong ý thơ có biết bao sự hòa hợp, cảm thông giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật thiên nhiên. Cội nguồn của sự cảm thông ấy chính là tình yêu thương mênh mông của Bác dành cho thiên nhiên cho mọi sự sống trên đời.

- Hơn thế, chòm mây như có hôn người, như mang tâm trạng, nó cô đơn, lẻ loi, và lặng lẽ, lững lờ trôi giữa không gian rộng lớn của trời chiều, nó mang nỗi buồn trong cảnh ngộ chia lìa: cánh chim mải miết bay về rừng xanh, chòm mây trôi chậm như ở lại giữa tầng không. Tuy vậy, vẻ đẹp cổ điển của hai câu thơ đã thể hiện bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ, bởi vì nếu không có ý chí và nghị lực không có phong thái ung dung tự chủ và sự tự do hoàn toàn về tinh thần thì không thể có những câu thwo cảm nhận thiên nhiên thật sâu sắc và tinh tế như thế trong hoàn cảnh khắc nghiệt của cảnh tù đày. Nói khác đi đó là chất thép ẩn sau chất tình.

b.2 Hai câu cuối: Bức tranh tâm cảnh của nhà thơ.

- Bức tranh cuộc sống ở vùng sơn cước với vẻ đẹp khỏe khoắn của người con gái xóm núi đang xay ngô bên lò than. Hình ảnh người phụ nữ lao động ở đây được gợi tả một cách cụ thể, sinh động như một bức tranh hiện thực. Chính nét vẽ đời thường ấy làm cho bài thơ theo dáng vẻ hiện đại, hơn thế, hình ảnh cô gái xay ngô, hình ảnh con người nổi bật lên như là trung tâm của bức tranh thiên nhiên. Cuộc sống đời thường đã đem lại cho người tù hơi ấm, niềm vui.

- Bài thơ chuyển một cách đột ngột, từ quang cảnh buổi chiều tôi buồn bã sang những hình ảnh sinh động, đầy sức sống. hình ảnh thiếu nữ nơi rừng núi xuất hiện với hoạt động xay ngô làm cho không khí buổi chiều có chút náo nhiệt, có thêm một chút sinh khí. Chính nét vẽ đời thường ấy làm cho bài thơ theo dáng vẻ hiện đại, hơn thế, trong sự hình dung về cự li, khoảng cách với cánh chim và chòm mây ( ở viễn cảnh),  hình ảnh cô gái xay ngô, hình ảnh con người (ở cận cảnh) nổi bật lên như là trung tâm của  bức tranh thiên nhiên. Trong bài thơ của Bác, hình ảnh cô gái xay ngô toát lên vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, sống động và chính cuộc sống lao động bình dị đó càng trở lên dáng quí, đáng trân trọng biết bao giữa núi từng chiều tối âm u, heo hút. Nó đưa lại cho người đi đường lúc chiều hôm chút hơi ấm của sự sống, chút niềm tin niềm vui và hạnh phúc trong lao động của con người, con người ấy tuy vất vả mà tự do.

- Những chữ “ma bao túc” ở dưới câu 3 được điệp vòng ở đầu câu 4 “Bao túc ma hoàn” đã tạo nên sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng như diễn tả cái vòng quay không dứt của động tác xay ngô – qua đó có thể thấy cô gái thật chăm chỉ, kiên nhẫn, cần mãn với công việc của chính mình. Đến khi cối xay dừng lại thì “lỗ dĩ hồng” – lò đã rực hồng, tức trời đã tối thì mới thấy lò than đỏ rực lên. Nếu hình dung cả bài thơ là một bức tranh thì chính cái chấm lửa đỏ mà người nghệ sĩ tài hoa chấm lên đó đã mang lại thần sắc cho toàn cảnh, đường như nó làm tăng thêm niềm vui và sức mạnh cho người đang cất bước trên con đường xa. Trong cảnh tù đầy khổ sai, chưa bao giờ Bác thôi lưu tâm đén những người lao động. Không kết thúc bài thơ trong u ám, lạnh lẽo. Bác đã lồng vào đó vẻ đẹp tâm hồn người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc, rực lên sắc hồng thiết tha tin yêu vào cuộc sống.

- Trong câu thơ cuối, sự vận động của tự nhiên cũng là sự vận động của tư tưởng, hình tượng thơ Hồ Chí Minh, chiều chuyển dần sang tối nhưng bức tranh thơ lại mở ra bằng ánh sáng rực hồng. cùng với sự vận động của thời gian là sự vận động của mạch thơ, tư tưởng của nhà thơ, từ tối đến sáng, từ tàn lụi đến sinh sôi, từ buồn sang vui, từ lạnh lẽo cô đơn sang ấm áp nóng tình người. Bức tranh khắc họa lại thời khắc đầu đêm bên xóm núi cho thấy Bác đã quên cảnh ngộ đau khổ của mình để cảm nhận cuộc sống của nhân dân, vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để đồng cảm với niềm vui đời thường. Nó nói lên sự quan tâm, tình thương của Bác với những người lao động nghèo.

- Với vẻ dẹp cổ điển và tinh thần hiện đại, bài thơ đã vận động từ hình ảnh chiều u ám, tăm tối đến ánh lửa rực hồng, ấm áp từ nỗi niềm buồn đau đến niềm vui.  Nó cho thấy cái nhìn tràn đầy niềm lạc quan yêu đời và tình yêu thương nhân dân của một con người “đại nhân, đại trí, đại dũng”. 

c. Tổng kết

* Giá trị nội dung

Qua bức tranh cảnh vật thấy được những nét đẹp tâm hồn của một nhà thơ chiến sĩ: lòng yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống, phong thái ung dung tự chủ và niềm lạc quan, nghị lực kiên cường vượt qua hoàn cảnh khắc nghiệt tăm tối.

* Giá trị nghệ thuật

- Sự kết hợp giữa vẻ đẹp cổ điển và tính hiện đại.

- Từ ngữ cô đọng, hàm súc, vận dụng tinh tế thủ pháp đối lập, phát huy giá trị nghệ thuật của biện pháp điệp liên hoàn.

VỘI VÀNG

- Xuân Diệu -

I. Kiến thức cơ bản

 1. Kiến thức về tác giả

- Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới (Mới trong cách cảm, cách nghĩ, cách thể hiện

- XD là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơ yêu đời, đắm say, mãnh liệt   2. Kiến thức về tác phẩm

- Xuất xứ: rút trong tập "Thơ thơ", xuất bản năm 1938

-  Vị trí: Là một trong những bài thơ tiêu biểu trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, thể hiện một quan niệm nhân sinh tích cực.

- Nhan đề: Vội vàng diễn tả thái độ ham sống đến cuồng nhiệt, nhu cầu hưởng thụ cuộc sống hết mình

 2.1. Bốn câu đầu

- Tôi muốn: Tắt nắng, buộc gió             

- Mục đích: Hương đừng bay đi , màu không nhạt    ->  ý tuởng, táo bạo

- Điệp ngữ “Tôi muốn”, động từ “tắt, buộc”

=> Diễn tả ước muốn, khát vọng thay đổi quy luật của thiên nhiên => Níu kéo thời gian, ngưng đọng không gian -> thể hiện tình yêu cuộc sống mãnh liệt của nhà thơ

     2.2. Câu 5- câu 13

- Hình ảnh: Ong bướm, tuần tháng mật, hoa lá, đồng nội xanh rì, chim muông, bình minh rực rỡ.

=> Bức tranh mùa xuân rất đẹp, căng tràn nhựa sống ->Thiên nhiên, vạn vật có đôi, có lứa . Đó như là thiên đường trên mặt đất.

- Nghệ thuật: Điệp từ, liệt kê, đảo trật tự ngữ pháp, so sánh: "Tháng giêng- một cặp môi gần"

=> Niềm vui say, ngây ngất của nhà thơ trước cảnh thiên nhiên tươi đẹp, tràn đầy sức sống

- Xuân Diệu nhìn thiên nhiên qua lăng kính của tình yêu, qua cặp mắt của tuổi trẻ . Nhờ vậy mà thiên nhiên đều nhuốm  màu tình tứ, tràn ngập xuân tình. Đó là cái nhìn lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp

=> Quan niệm nhân sinh tích cực mới mẻ: Thiên đường trên mặt đất là con người trần thế, tình yêu tuổi trẻ

     2.3. Câu 14 đến 29

- Miêu tả thời gian bằng nghệ thuật đối :

+ Xuân đang tới- Xuân đang qua

+ Xuân còn non - Xuân sẽ già

+ Xuân hết- Tôi chết

- Sự cảm nhận về thời gian của tác giả là thời gian tuyến tính, một đi không trở lại.

- Điệp từ  "nghĩa là" Niềm vui tan biến, thay vào đó là hiện thực phũ phàng vì thiên nhiên trở thành lực lượng đối kháng với con người:

+ Lượng trời chật >< Lòng tôi rộng

+ Xuân tuần hoàn >< Tuổi trẻ không hai lần thắm lại

+ Còn trời đất >< Chẳng còn tôi mãi

- Tác giả bâng khuâng nuối tiếc tất cả bởi xuân mãi tuần hoàn còn tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại 

=> Sự  thức tỉnh sâu sắc của tác giả với mỗi cá nhân: Hãy trân trọng, nâng niu những tháng năm của tuổi trẻ. Hãy sống hết mình, sống thật có nghĩa và tận hưởng những gì mà thiên nhiên ban tặng .

     2.4  Câu 30 đến hết

- Điệp ngữ “ Ta muốn” lặp lại 5 lần .

- Động từ : ôm, riết , say, thâu , cắn…

- Liệt kê…..

-> Sự gấp gáp, vội vàng trong tâm hồn tác giả - sợ sắc xuân tàn phai- yêu mùa xuân tới mức cuồng si:

     "Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi"

- Câu thơ thể hiện một tình yêu cuồng si. Tác giả muốn níu kéo, giữ chặt lại không muốn nó qua đi. Níu kéo sắc xuân, tình xuân là níu kéo vẻ đẹp cho muôn đời .

- Cách thay đổi đại từ nhân xưng: Tôi -> Ta

Tôi: Nhân danh chung chung

Ta: Nhân danh riêng biệt

=> Khẳng định cái tôi duy nhất của XD

           "Ta là một, là riêng, là thứ nhất

               Không có ai bè bạn nổi cùng ta"

     2.5 Nghệ thuật:

- Sự kết hợp giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí.

- Cách nhìn, cách cảm mới và những sáng tạo độc đáo về hình ảnh thơ.

- Sử dụng ngôn từ; nhịp điệu dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt.

“TRÀNG GIANG”

- Huy Cận -

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Kiến thức về tác giả.

- Huy Cận (1919-2005), tên khai sinh Cù Huy Cận; Quê Hà Tĩnh. Tham gia cách mạng từ 1942, giữ nhiều trọng trách lớn trong bộ máy Nhà nước.

- Sáng tác từ rất sớm (17 tuổi). Sự nghiệp thơ chia hai giai đoạn:

+ Trước cách mạng: Bao trùm thơ Huy Cận thời kỳ này là nỗi buồn, nổi tiếng với các tập thơ: “Lửa thiêng”, “Kinh cầu tự”…

+ Sau cách mạng: Huy Cận hoà nhập cuốc sống mới, thơ ông không mang cái giọng buồn ảo nảo như trước nữa mà ngập tràn lòng yêu đời, yêu cuộc sống: “Trời mỗi ngày lại sáng”, “Đất nở hoa”…

- Phong cách thơ:

 + Huy Cận là một tronh những tác giả xuất sắc của phong trào Thơ Mới.

 + Thơ ông hàm súc, giàu chất triết lí, chất suy tưởng. Sáng tạo nhiều tác phẩm giá trị trong đó có bài thơ Tràng giang là thi phẩm tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận.

2.Kiến thức về tác phẩm.

 2.1 hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, chủ đề.

- Sáng tác tháng 9/1939, khi đó Huy Cận 20 tuổi đang học trường cao đẳng canh nông, những buổi chiều nhớ nhà thường đạp xe ra bến Chèm nhìn dòng sông Hồng cuộn chảy nỗi nhớ trào dâng. Rút ra từ tập “Lửa thiêng” (1940)

- Chủ đề:  nỗi sầu, cô đơn của cái “tôi” cá nhân trước thiên nhiên, vũ trụ thấm đượm: tình đời, tình người, lòng yêu quê hương, đất nước thầm kín.

 2.2. Nội dung cơ bản

  2.2. 1. Nhan đề và lời đề từ

- Nhan đề: 

+ Ban đầu có tên “Chiều bên sông” gắn với bút pháp tả thực, sau đổi thành “Tràng giang”.

+ Tràng giang: âm hưởng từ Hán-Việt gợi không khí cổ kính và đầy tính khái quát: không chỉ gợi sự mênh mông bát ngát của không gian mà còn gợi nỗi buồn mênh mang rợn ngợp.

- Lời đề từ: Thâu tóm khá chính xác và tinh tế cả tình (bâng khuâng, thương nhớ) và cảnh (trời rộng, sông dài) của bài thơ.

  2.2.2. Bức tranh thiên nhiên

- Không gian: mênh mang, bao la, rộng lớn “Trời rộng sông dài” .

- Cảnh vật: hiu quạnh, hoang vắng, đơn lẻ, hiu hắt buồn:

+ Hình ảnh mang đậm màu sắc cổ điển: sóng, con thuyền, cồn nhỏ đìu hiu, bến cô liêu…Mây đùn núi bạc, cánh chim nghiêng

-> Đây là những thi liệu quen thuộc trong thơ đường. Những hình ảnh ấy gợi lên một sự vắng vẻ, lặng lẽ, buồn.

+ Bức tranh “Tràng giang’ vẫn gần gũi, thân thuộc với mỗi người Việt Nam bởi: “cành củi khô”, “tiếng làng xa vẫn chợ chiều”... Đó là những âm thanh, hình ảnh của cuộc sống con người của miền quê Việt Nam.

- Sự đối lập giữa bao la mênh mông của trời nước với vạn vật nhỏ nhoi tạo nên cảm giác lạc lõng con người cảm thấy cô đơn, bơ vơ.

Bao trùm bài thơ là một giọng điệu buồn. Dường như nỗi buồn đã thấm sâu vào cảnh vật.

  2.2.3. Tâm trạng nhân vật trữ tình (nỗi lòng của nhà thơ)

- Nhà thơ cảm thấy cô đơn nhỏ bé trước mênh mông sông nước đất trời, không một niềm hi vọng của sự gần gũi, thân mật:“Đâu tiếng làng xa vẫn chợ chiều”,“bến cô liêu”; “không cầu”; “không chuyến đò”…

Những hình ảnh ấy gợi lên sự cô đơn lẽ loi của con người trước vũ trụ bao la.
- Nhìn cảnh vật trôi trên dòng sông nhà thơ cảm thấy thấm thía sâu sắc hơn sự trôi nổi của kiếp người.

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

   Củi một cành khô lạc mấy dòng"

 “Bèo giạt về đâu hàng nối hàng

 Nối buồn của thi nhân chính là nỗi buồn mang tính thời đại - thời đại thơ mới - thời đại con người mất nước, mất tự do, cuộc sống chỉ là hư ảo, mộng mị, sống không có lí tưởng, không tương lai hạnh phúc. Đây có thể coi là “nỗi buồn đẹp”. “Tràng giang đã dọn đường cho lòng yêu giang san đất nước” (Xuân Diệu).

- Nhà thơ mượn một số cách diễn đạt của thơ Đường mà vẫn giữ được nét riêng biệt của thơ mới và hồn thơ Huy Cận.

“ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” tạo ấn tượng về sự hùng vĩ của thiên nhiên.
“ Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa” – thời gian đã biến chuyển, hoàng hôn buông xuống và cánh chim đơn lẻ trong buổi chiều tà dễ gợi nỗi buồn xa vắng – nỗi buồn nhớ quê hương:
“ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

So sánh với hai câu thơ của Thôi Hiệu:

“ Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu”

Ta thấy với Huy Cận không cần có khói sóng trên sông vẫn nhớ quê nhà da diết -> Tình cảm quê hương sâu nặng, thường trực, cháy bỏng.

=> Đứng trước cảnh sông nước bao la, những đợt sóng xa bờ tít tắp, thi nhân như đang soi mình xuống dòng sông, thấm thía một nỗi buồn bơ vơ, lặng lẽ thả hồn mình về với quê hương.
  2.2. 4. Những đặc sắc nghệ thuật

- Cảnh vật vừa mang nét cổ kính thường gặp trong thơ đường, vừa gần gũi thân thuộc đối với con người Việt Nam.

- Những hình ảnh mang nét đẹp cổ kính:

+ Nhan đề: 2 âm Hán - Việt

+ Câu thơ: “Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” gợi nhớ câu thơ Thôi Hiệu:
“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Phương thức biểu đạt của thơ Đường: 

Vô hạn thiên nhiên > < hữu hạn của con người

Cái nhất thời > < vĩnh hằng

+ Thế giới bài thơ là thế giới thân thuộc của đồng quê, của non sông đất nước Việt Nam.

 

ĐÂY THÔN VĨ DẠ

- Hàn Mặc Tử -

I. Kiến thức cơ bản

1. Kiến thức về tác giả

- Vị trí nhà thơ: Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào thơ mới: “ Ngôi sao chổi trên bầu trời thơ Việt Nam” (Chế Lan Viên).

- Phong cách thơ: Thơ Hàn Mặc tử là một thế giới nghệ thuật kì dị. Ở đó có sự đan xen, biến hóa của nhiều hình ảnh phức tạp, bí ẩn. Tuy nhiên đằng sau thế giới hình ảnh đó là một tâm hồn tràn ngập tình yêu đời, chan chứa khát khao sống. Tâm hồn thơ ông đã thăng hoa thành những vần thơ tuyệt diệu, gợi cho ta niềm thương cảm qua những cảm xúc thẩm mĩ kì thú và niềm tự hào về sức sáng tạo của con người.

- Tác phẩm chínhGái quê (1936); Thơ Điên (1938); Duyên kì ngộ (kịch thơ 1939); Chơi giữa mùa trăng (thơ văn xuôi 1940)...

2. Kiến thức về tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác

Bài thơ được sáng tác năm 1938. Ban đầu bài thơ có tên Ở đây thôn Vĩ Dạ, về sau đổi lại thành Đây thôn Vĩ Dạ. Theo một số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ tấm bưu thiếp của Hoàng Thị Kim Cúc – một cô gái ở thôn Vĩ Dạ gửi cho Hàn Mặc Tử, khi tác giả đang dưỡng bệnh ở Quy Hoà

b. Xuất xứ: In trong tập “Thơ điên”, phần “Hương thơm”.

c. Bố cục bài thơ

Khổ 1: Cảnh Vĩ Dạ lúc hừng đông

Khổ 2: Cảnh Vĩ Dạ lúc đêm trăng và tâm trạng ngóng trông đầy khắc khoải của nhà thơ

Khổ 3: Hình bóng con người cùng những hoài nghi, mơ tưởng trong tâm trạng của nhà thơ

d. Phân tích bài thơ

* Khổ 1

- Câu thơ mở đầu: “ Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

+ Hình thức: Câu hỏi tu từ nhiều thanh bằng gợi âm hưởng nhẹ nhàng, bâng khuâng, da diết.

+ Sắc thái biểu cảm: Hỏi han; Mời mọc;Trách móc.

+ Chủ thể trữ tình: Tác giả

=> Câu hỏi thể hiện sự phân thân tác giả, thể hiện sự băn khoăn, day dứt trong tâm trạng của thi nhân. Đó là một ước ao được trở về thôn Vĩ trong sự mặc cảm và bất lực. Câu thơ còn được xem như một lời mở đầu, một cái cớ để nhà thơ có thể đưa hồn mình về với thôn Vĩ một cách thật tự nhiên.

- Ba câu thơ tiếp

+ Cảnh thôn Vĩ với các hình ảnh:

+) nắng hàng cau: Cau là cây cao nhất, cây đầu tiên đón ánh nắng trong vườn. Nắng rọi vào sương trên những lá cau, tạo thành sự hoà phối giữa màu và ánh, gợi vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết; giản dị mà giàu sức gợi. Thân cau, bóng cau là những nét mảnh mai, thanh thoát. Thân cau thẳng tắp và chia những đốt đều đặn, hiện lên như cây thước để đo mực nắng của thiên nhiên

+) nắng mới lên: Cái nắng đầu tiên của một ngày -  tinh khôi, trong trẻo

Câu thơ lặp lại từ nắng như nhấn mạnh một hình ảnh ám ảnh và đầy ấn tượng trong lòng nhà thơ, đồng thời khái quát nét đặc trưng của nắng miền Trung: nắng tràn ngập, hàng cau tắm mình trong biển nắng mai.

+) vườn ai: gợi cảm giác mơ hồ, bất định gây ấn tượng về một vẻ đẹp bí ẩn không thể chiếm lĩnh, không thể sở hữu.

+) mướt quá vừa là một sự cực tả cái vẻ mượt mà, non tơ, óng chuốt, mơn mởn xanh tươi, vừa thể hiện giọng điệu trữ tình mê đắm, say sưa.

+)  xanh như ngọc là một hình ảnh so sánh rất tự nhiên, giản dị

Câu thơ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc: gợi một vẻ đẹp trong sáng thanh thoát và sang trọng. Hình ảnh so sánh này còn gợi lên vẻ đẹp tốt tươi, màu mỡ và trù phú của làng quê này.

+ Người thôn Vĩ

+) mặt chữ điền là biểu tượng của nét đẹp phúc hậu, hiền lành, trung thực.

+) “lá trúc che ngang”: lá trúc mảnh mai, gợi nét đẹp kín đáo, dịu dàng của con người xứ Huế.

Câu thơ Lá trúc che ngang mặt chữ điền giàu chất tạo hình: sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người trong vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng.

Tóm lại:

Khổ thơ 1: Cảnh trong sáng, người thuần hậu. Thiên nhiên và con người hài hòa trong vẻ đẹp dịu dàng, thắm đượm tình quê, hồn quê. Vĩ Dạ hừng đông đúng là cảnh của sự mời gọi, dù là mời gọi trong tưởng tượng, trong kí ức nhưng ta nghe như có tiếng thì thầm của gặp gỡ, vui tươi. Đó là tình yêu và nỗi nhớ của Hàn Mặc Tử đối với cảnh và người xứ Huế…

* Khổ 2

- Câu mở đầu với hình ảnh gió theo lối gió, mây đường mây biểu hiện của sự chia cách.

- Bút pháp lấy động tả tĩnh ở câu thơ thứ hai làm cho bức tranh Vĩ Dạ hoàn toàn mang màu sắc khác lạ so với khổ 1: Bức tranh buồn tĩnh lặng.

- Hình ảnh bến sông trăng là một hình ảnh lạ, gợi lên vẻ đẹp lãng mạn, nhẹ nhàng, tất cả đang đắm chìm trong bồng bềnh mơ mộng, như thực như ảo

- Câu hỏi Có chở trăng về kịp tối nay? sáng lên hi vọng gặp gỡ nhưng lại thành ra mông lung, xa vời

Như vậy: Cảm xúc chuyển biến đột ngột từ niềm vui của hi vọng gặp gỡ sang trạng thái lo âu đau buồn thất vọng khi tác giả nhớ và mặc cảm về số phận bất hạnh của mình. Ở đó ta còn thấy được sự khao khát tha thiết đợi chờ một cách vô vọng

* Khổ 3

- Câu thơ Mơ khách đường xa khách đường xa: Khoảng cách về thời gian, không gian giữa thi nhân và người trong mộng. Điệp ngữ khách đường xa và động từ thể hiện rất rõ niềm mong mỏi của thi nhân về một sự gặp gỡ đã thành ám ảnh.

- Hình ảnh Áo em trắng quá nhìn không ra: hư ảo, mơ hồ - hình ảnh người xưa xiết bao thân yêu nhưng xa vời, không thể tới được nên nhân vật trữ tình rơi vào trạng thái hụt hẫng, bàng hoàng, xót xa.

- Cụm ngữ chỉ không gian xác thực: ở đây với hình ảnh sương khói mờ nhân ảnh nhấn mạnh thêm vào sự hư ảo, mơ hồ khi thi nhân càng mong muốn thì sự mong muốn càng xa xôi.

- Câu hỏi cuối bài biểu lộ nỗi cô đơn trống vắng trong tâm hồn của thi nhân đang ở thời kì đau thương nhất. Lời thơ bâng khuâng hư thực gợi nỗi buồn xót xa trách móc

Tóm lại: Khi hoài niệm về quá khứ xa xôi hay ước vọng về những điều không thể nhà thơ càng thêm đau đớn. Điều đó chứng tỏ tình yêu tha thiết cuộc sống của một con người luôn có khát vọng yêu thương và gắn bó với cuộc đời.

e. Tổng kết

* Nghệ thuật

- Trí tưởng tượng phong phú.

- Nghệ thuật so sánh, nhân hóa, đối lập; thủ pháp lấy động tả tĩnh, sử dụng câu hỏi tu từ...

- Hình ảnh sáng tạo, có sự hòa quyện giữa thực và ảo.

* Nội dung

Bức tranh phong cảnh Vĩ Dạ và lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt mà đầy uổn khúc của nhà thơ.

HAI ĐỨA TRẺ

(Thạch Lam)

I.KIẾN THỨC CƠ BẢN.

1. Tác giả.

- Thạch Lam (1910 - 1942) sinh tại Hà Nội nhưng sống nhiều năm tuổi thơ ở Cẩm Giàng (Hải Dương).

- Thạch Lam là một thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn (nhóm viết của dòng văn xuôi lãng mạn những năm (1930-1945).

- Ông thành công ở thể loại truyện ngắn: thường viết những truyện không có truyện, tìm kiếm vẻ đẹp tâm hồn với xúc cảm mong manh, mơ hồ tinh tế. Mỗi truyện của ông như một bài thơ trữ tình...

2. Tác phẩm.

a. Xuất xứ

- Trích từ tập truyện ngắn “Nắng trong vườn” (1938) là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam.

- Truyện ngắn Hai đứa trẻ có sự hòa quyện hai yếu tố hiện thực và lãng mạn.

b. Nội dung.

*Phố huyện lúc chiều tàn.

- Cảnh chiều tàn:

+ Âm thanh: tiếng trống thu không, tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng, tiếng muỗi vo ve trong cửa hàng hơi tối… ->Âm thanh chậm rãi, nhỏ, thể hiện sự tĩnh lặng vốn có của buổi chiều quê.

+ Hình ảnh: Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời -> Gợi bước chuyển về thời gian

=> Bức tranh của một chiều quê quen thuộc, gần gũi và gợi cảm; bình dị mà không kém phần thơ mộng.

- Cảnh chợ tàn:

+ Cảnh vật: Chợ họp giữa phố đã vãn từ lâu. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn, lá mía...-> Cảnh chợ tiêu điều, xơ xác của chốn quê nghèo gợi sự tàn tạ, buồn vắng.

+ Con người: Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất, những đứa trẻ con nhà nghèo lom khom nhặt nhạnh những thứ còn sót lại... -> Những kiếp người nghèo khổ.

=> Gợi trong Liên nỗi buồn man mác và niềm trắc ẩn, cảm thương cho những đứa trẻ lam lũ, tội nghiệp.

* Phố huyện lúc về đêm.

- Khung cảnh thiên nhiên:

+ Ngập chìm trong đêm tối mênh mông. Đường phố và các con ngõ chứa đầy bóng tối...

+ Ánh sáng nhỏ bé, yếu ớt vệt sáng...hột sáng...quầng sáng...

- Con người: Nhịp sống lặp đi lặp lại một cách đơn điệu, buồn tẻ với những động tác quen thuộc. Họ mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày.

+ Chị em Liên với cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu.

+ Mẹ con chị Tí với hàng nước đơn sơ, ngày mò cua bắt ốc, tối dọn hàng “nhưng chẳng kiếm được là bao”.

+ Hình ảnh bà cụ Thi điên nghiện rượu: tiếng cười khanh khách, đi lần vào bóng tối,...

+ Bác phở Siêu: bán thứ quà xa xỉ, nhiều tiền.

+ Vợ chồng bác Xẩm: chưa hát vì chưa có khách, tiếng đàn bầu bần  bật trong yên lặng, gục xuống chiếu ngủ từ bao giờ.

+ Những người về muộn: từ từ đi trong đêm

- Tâm trạng của Liên.

+ Nhớ lại những ngày tươi đẹp ở Hà Nội, được đi chơi bờ hồ, được uống những cốc nước lạnh xanh đỏ... đó là một vùng sáng rực và lấp lánh (khác hẳn với phố huyện chìm trong bóng tối)

+ Nỗi buồn đầy cảm thương về những cảnh đời nhọc nhằn, những kiếp người tàn tạ nơi phố huyện.

+ Cảm nhận sâu sắc về cuộc sống tù đọng trong bóng tối của họ

=> Thái độ tác giả: thương cảnh sống, những kiếp người, những thân phận như bị bỏ quên nơi ga xép phố huyện. Đó là cái nhìn đầy thương cảm của nhà văn qua nhân vật Liên.

- Phố huyện lúc chuyến tàu đêm đi qua:

+ Khi tàu đến: ánh sáng...âm thanh...con người....

+ Khi tàu qua: phố huyện lại chìm trong bóng tối, tính lặng...

+ Ý nghĩa của chuyên tàu đêm: là biểu tượng của một thế giới thật đáng sống với sự giàu sang và rực rỡ ánh sáng. Nó đối  lập với sự mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh của người dân phố huyện.

+ Qua tâm trạng của chị em Liên, tác giả như muốn lay tỉnh những con người đang buồn chán, sống quẩn quanh lam lũ và hướng họ đến một tương lai tốt đẹp hơn. Đó là giá trị nhân bản của truyện ngắn này

  => Truyện ngắn Hai đứa trẻ thể hiện niềm thương cảm chân thành của Thạch Lam đối với những kiếp sống nghèo khổ, chìm khuất trong mòn mỏi, tăm tối, quẩn quanh nơi phố huyện trước cách mạng và sự trân trọng với những mong ước bé nhỏ, bình dị mà tha thiết của họ.

c. Nghệ thuật:

- Cốt truyện đơn giản, nổi bật là những dòng tâm trạng của nhân vật.

- Bút pháp đối lập tương phản

- Miêu tả sinh động những biến đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng của con người...


CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

- Nguyễn Tuân -

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Tác giả:

a) Tác giả: Nguyễn Tuân (1910-1987) sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn. Ông là một nghệ sĩ tài hoa, uyên bác, có cá tính độc đáo. Nguyễn Tuân sáng tác ở nhiều thể loại, song đặc biệt thành công ở thể loại tùy bút.

b) Tác phẩm: Chữ người tử tù rút ra từ tập truyện ngắn Vang bóng một thời (1940), là “một văn phẩm đạt gần tới sự toàn thiện, toàn mĩ”(Vũ Ngọc Phan)

2. Nội dung:

- Nhân vật Huấn Cao:

+ Mang cột cách của một nghệ sĩ tài hoa; có khí phách của một trang anh hùng nghĩa liệt; sáng ngời vẻ đạp trong sáng của người có thiên lương,…

+ vẻ đẹp tài hoa, khí phách hiên ngang, thiên lương trong sang1 ở Huấn Cao kết tinh trong cảnh cho chữ-một cảnh tượng xưa nay chưa từng có.Ở đó, cái đẹp, cái thiện và nhân cách cao thượng của con người đã chiến thắng, tỏa sáng.

=> Qua hình tuợng Huấn Cao, Nguyễn Tuân muốn khẳng định cái đẹp là bất diệt, cái tài và cái tâm, cái đẹp và cái thiện không thể tách rời; thể hiện sự trân trọng những giá trị tinh thần của dân tộc.

- Nhân vật quản ngục: Có sở thích cao quý, biết say mê và quý trọng cái đẹp, biết cảm phục tài năng, nhân cách và biệt nhỡn liên tài. Qua nhân vật này, nhà văn muốn nói: trong mỗi con người đều ẩn chứa tâm hồn yêu cái đẹp, cái tài. Cái đẹp chân chính, trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn giữ được phẩm chất, nhân cách.     

- Nghệ thuật:

+ Tạo tình huống độc đáo, đặc sắc (cuộc gặp gỡ và mối quan hệ éo le, trớ trêu giữa viên quản ngục và Huấn Cao).

+ Sử  dụng thành công thủ pháp đối lập, tương phản.

+ Xây dựng thành công nhân vật Huấn Cao-con người hội tụ nhiều vẻ đẹp.

+ Ngôn ngữ góc cạnh, giàu hình ảnh, có tính tạo hình, vừa cổ kính vừa hiện đại.

- Ý nghĩa văn bản: "Chữ người tử tù” khẳng định và tôn vinh sự chiến thắng của ánh sáng, cái đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả của con người đồng thời bộc lộ lòng yêu nước thầm kín của nhà văn.


HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA

Trích Số đỏ - Vũ Trọng Phụng

I. Kiến thức cơ bản

1. Kiến thức về tác giả: Vũ Trọng Phụng((1912-1939)

- Là nhà văn xuất sắc của xu hướng văn học hiện thực 1930- 1945.Ông được mệnh danh là “Ông vua phóng sự của Bắc Kì”. Quan điểm sáng tác của Vũ Trọng Phụng thể hiện trong lời nhận định: “Các ông cho tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và những người cùng chí hướng với tôi cho tiểu thuyết là sự thực ở đời”.

-  Ông căm ghét xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời. Đây là cơ sở để tạo nên nhiều tác phẩm hấp dẫn của nhà văn.

- Sự nghiệp văn chương (ông là nhà văn lao động sáng tạo không ngừng. Ông cũng là người bình dị, “người của khuôn phép nền nếp” (Lưu Trọng Lư).

+  Nổi tiếng về tiểu thuyết, truyện ngắn và đặc biệt thành công ở thể loại phóng sự;

+  Để lại nhiều kiệt tác như : Số đỏ, Giông tố; Vỡ đê, Cơm thầy cơm cô...

2. Kiến thức về tác phẩm:

a. Tiểu thuyêt Số đỏ (1936)  gồm 20 chương kể về cuộc đời gặp toàn may nắm của Xuân Tóc Đỏ một kẻ vô học, ma ca bông  bỗng chốc nhảy lên tầng lớp danh giá của xã hội thượng lưu lúc bấy giờ. Số đỏ được coi như là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của VHVN, “có thể làm vinh dự cho mọi nền VH” (Nguyễn Khải).

b.  Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia thuộc Chương XV của tiểu thuyết này.

* Nội dung:

- Nhan đề Hạnh phúc của một tang gia: chứa đựng mâu thuẫn trào phúng, hàm chứa tiếng cười chua chát, vừa kích thích trí tò mò của độc giả vừa phản ánh một sự thật mỉa mai, hài hước và tàn nhẫn.

- Những chân dung biếm họa:

+ Những người trong gia đình: Cụ cố Hồng mơ màng nghĩ mình được mặc áo xô gai, được khen “già”; Văn Minh tranh thủ quảng cáo kiếm tiền; cô Tuyết tranh thủ trưng diện; cụ tú Tân muốn chứng tỏ tài chụp ảnh; Phán mọc sừng kiếm món lợi lớn;...riêng Xuân Tóc đỏ, danh giá và uy tín càng cao thêm.

+ Những người ngoài gia đình: Hai cảnh sát Min Đơ và Min Toa có việc làm;  bạn cụ cố Hồng được dịp khoe huân chương và râu ria các loại; những “giai thanh gái lịch”được dịp hẹn hò, tán tỉnh...đều vui vẻ, hạnh phúc.

- Quang cảnh đám tang:

+ Bề ngoài thật long trọng, “gương mẫu” nhưng thật chất chẳng khác gì đám rước, nhố nhăng, lố bịch có đủ “kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, kèn Tây kèn ta, vòng hoa câu đối...”; giai thanh gái lịch thản nhiên nói chuyện, bình phẩm, cười tình...

+ Đỉnh điểm của sự giả dối diễn ra lúc hạ huyệt, khi cậu tú Tân yêu cầu mọi người tạo dáng để chụp ảnh, con cháu tự nguyện trở thành những diễn viên đại tài và nhất là màn kịch siêu hạng của ông Phán mọc sừng.

* Nghệ thuật:

- Tạo tình huống trào phúng cơ bản rồi mở rộng ra những tình huống khác;

- Phát hiện những chi tiết đối lập gay gắt cùng tốn tại trong một con người, sự vật, sự việc...;

- Thủ pháp cường điệu, nói ngược, nói mỉa...được sử dụng một cách linh hoạt;

- Miêu tả biến hóa, linh hoạt và sắc sảo đến từng chi tiết, nói trúng nét riêng của từng nhân vật.

* Ý nghĩa văn bản:  Đoạn trích là một bi hài kịch, phơi bày bản chất nhố nhăng, đồi bại của một gia đình đồng thời phản ánh bộ mặt thật của XH thượng lưu thành thị trước CM tháng Tám


B. CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12: HS tự ôn tập các tác phẩm sau:

        1. TÂY TIẾN (Quang Dũng)

2. ĐẤT NƯỚC (Trích chương V - Trường ca mặt đường khát vọng ) Nguyễn Khoa Điềm

3. SÓNG (Xuân Quỳnh)

4. VIỆT BẮC (Tố Hữu)

5. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

6. VỢ CHỒNG A PHỦ (Tô Hoài)

7. VỢ NHẶT (Kim Lân)

8. NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ (Nguyễn Tuân)

9. AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG (Hoàng Phủ Ngọc Tường)

10. RỪNG XÀ NU (Nguyễn Trung Thành)

11. CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA (Nguyễn Minh Châu)

12. HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT (Lưu Quang Vũ)



MỘT SỐ ĐỀ THAM KHẢO

SỞ GD&ĐT ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG


ĐỀ THI THỬ LẦN I

Năm học: 2017 - 2018

Môn: NGỮ VĂN 12

Thời gian làm bài: 120 phút

Phần I: Đọc - hiểu (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Cho tôi lần nữa được cảm ơn!

Những chàng trai hai mươi viết nên huyền thoại,

Cờ Tổ quốc tung bay, ngôi sao vàng chói lọi,

Cảm xúc vỡ òa, nước mắt hạnh phúc rơi!...

 

Cảm ơn các em, cảm ơn các chàng trai!

Cảm ơn những đôi chân, những bàn tay, những cái đầu thần thánh,

Những trận đấu ngập tràn cảm xúc,

Triệu trái tim cùng hòa nhịp: Việt Nam.

Cho chúng tôi lần nữa được cảm ơn!

Những Quang Hải, Đức Chinh, Tiến Dũng,

Những Đình Trọng, Xuân Trường, Văn Đức,

Duy Mạnh, Văn Thanh, Văn Hậu, Đức Huy...

Thật tuyệt vời, và thật diệu kỳ!

Xin cảm ơn, những chàng trai vô địch,

Ngay phút này đây - trước trận đấu cuối cùng.

 

Cho chúng tôi cảm ơn những anh hùng!

Mang bóng đá Việt Nam lên bảng vàng châu lục,

Thế giới ngỡ ngàng: Có phải con Rồng đang tỉnh giấc?

Náo động cầu trường - Địa chấn Việt Nam.

 

Xin cảm ơn và chúc mừng ông - Ngài Park Hang Seo!

Người thầy lớn có học trò xuất sắc,

Chẳng biết nói gì đâu, vui trào nước mắt.

Việt Nam tuyệt vời, Việt Nam - Tổ quốc tôi!

(Cảm ơn những chàng trai đất Việt, Đàm Huy Đông, Dẫn theo Phụ nữ Việt Nam)

Câu 1. Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt chính của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra hai biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ thứ 3.

Câu 3. Vì sao tác giả lại gọi "Những Quang Hải, Đức Chinh, Tiến Dũng; Những Đình Trọng, Xuân Trường, Văn Đức,/ Duy Mạnh, Văn Thanh, Văn Hậu, Đức Huy..." - những cầu thủ trong đội tuyển bóng đá U23 Việt Nam năm 2018 là những chàng trai vô địch?

Phần II: Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1: Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh (chị) về sức mạnh của thể thao.

Câu 2: Cảm nhận về hai đoạn văn sau: “Ngày tết, Mị cũng uống rượu. Mị nén lấy hũ rượu cứ uống ừng ựng từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng...” (Vợ chồng APhủ - Tô Hoài)  

“ Phải uống thêm chai nữa. Và hắn uống. Nhưng tức quá, càng uống lại càng tỉnh ra. Tỉnh ra chao ôi buồn! Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Hắn ôm mặt khóc rưng rức...” ( Chí Phèo –Nam Cao)



SỞ GD&ĐT ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG


ĐỀ THI THỬ LẦN 1

Năm học: 2017 - 2018

Môn: NGỮ VĂN 12

Thời gian làm bài: 120 phút


Phần I: Đọc - hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn ngữ liệu bên dưới và hoàn thành các câu hỏi:

Những ngày này, khi đội tuyển bóng đá U23 Việt Nam lập nên kỳ tích vang dội, lọt vào chơi trận chung kết giải U23 Châu Á khiến lớp lớp người dân đất Việt luôn trong tâm trạng sung sướng, tự hào. Chiến thắng này, mục tiêu này đã phải trải qua hàng chục năm, là mốc son trong lịch sử bóng đá nước nhà.

Không chỉ đơn thuần là bóng đá mà còn là lòng tự tin, tự hào dân tộc, khát vọng vươn tới của người Việt ở nhiều lĩnh vực khác. Vấn đề là từ “quả ngọt” của U23, Việt Nam sẽ phải làm gì để khát vọng ấy được thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác; nhất là giúp thế hệ trẻ hôm nay luôn có khát vọng vươn tới tầm châu lục trong xây dựng cuộc sống và phát triển đất nước…

…Chúng ta vui mừng là đã có rất nhiều bạn trẻ mang trong mình khát vọng Việt và họ đang vươn tới để khẳng định giá trị của mình ở nhiều lĩnh vực. Không chỉ làm giàu cho bản thân, gia đình mà còn cống hiến rất nhiều cho cộng đồng, xã hội. Có không ít người đã vượt qua châu lục đạt tới tầm cao của thế giới ở các lĩnh vực như toán học, âm nhạc…

Vậy nên, tự hào về đội tuyển bóng đá U23 cho chúng ta một niềm tin: Khát vọng Việt là có thật trong từng con người cụ thể và cả xã hội, nhất là trong thế hệ trẻ. Vấn đề là nhà quản lý, gia đình, nhà trường, xã hội phải khơi dậy, đánh thức. Tiếp đó là ươm mầm, nuôi dưỡng. Để khát vọng ấy không chỉ được thể hiện trong bóng đá, trong thể thao mà cả trong cuộc sống, đặc biệt là trong khởi nghiệp, làm giàu.

Tự mỗi người trẻ cũng phải cảm nhận đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ của mình với bản thân, gia đình và xã hội trong việc vun đắp ước mơ, xây bờ hạnh phúc. Có khát vọng đi tới, tự bồi đắp, được dựng xây, người trẻ Việt sẽ có cơ hội tỏa sáng không chỉ ở trong nước mà còn vươn đến châu lục và toàn thế giới. Chúng ta cùng có niềm tin như vậy.

(Từ thành công của đội tuyển U23 Việt Nam nghĩ về khát vọng Việt, Baodantoc.com.vn, ngày 25/1/2018)

Câu 1 (0.5đ): Xác định phương thức biểu đạt của văn bản.

Câu 2 (0.5đ): Xác định nội dung của văn bản.

Câu 3 (1.0đ): Anh/chị suy nghĩ thế nào về câu nói trên.

Câu 4 (1.0đ): Có khát vọng đi tới, tự bồi đắp, được dựng xây, người trẻ Việt sẽ có cơ hội tỏa sáng không chỉ ở trong nước mà còn vươn đến châu lục và toàn thế giới. Anh/chị có đồng tình với quan điểm trên hay không? Vì sao?

Phần II: Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1 (2 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh (chị) về câu nói  Khát vọng Việt là có thật trong từng con người cụ thể và cả xã hội, nhất là trong thế hệ trẻ.

Câu 2 (5 điểm): Vẻ đẹp của dòng song xứ Huế qua hai tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) và Ai đã đặt tên cho dòng sông ? (Hoàng Phủ Ngọc Tường)



                                                                       – Hết –

SỞ GD&ĐT ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG


ĐỀ THI THỬ LẦN I

Năm học: 2017 - 2018

Môn: NGỮ VĂN 12

Thời gian làm bài: 120 phút


I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

(1) Sáng nay tôi thức dậy với những lời trong một bài hát của ca sĩ Mick Jagger: "Ủy mị chẳng ích gì, chuyện trôi qua nhanh lắmĐúng như thế. Cuộc đời thực sự đang trôi nhanh lắm.

  1. Sao lại trì hoãn những việc có thể làm hôm nay cho những lúc rảnh rỗi trong tương lai xa xôi nào đó? Sao không đóng vai một con người vượt trội bây giờ mà lại dành điều đỏ vào một thời điểm khác mai sau? Sao lại chần chừ thụ hưởng những giờ phút tuyệt vời và chờ đến khi về già? Một ngày nọ tôi đọc cuồn sách vế một phụ nữ trẻ suy tư về kế hoạch để dành tiền hưu. Cô nói: "Tôi muốn bảo đảm mình sẽ để dành thật nhiều tiền - như vậy tôi mới cỏ thể vui sống vào cuối đời”. Tôi không nghĩ vậy. Tại sao phải chờ đên già mới hưởng thụ cuộc sống?

  2. Tôi không có ý nói rằng bạn nên bỏ qua tầm quan trọng của việc lên kế hoạch cho tương lai. Hãy biết nhìn xa và chuẩn bị cho suốt cuộc đời. Đó là sự quân bình. Hãy lên kế hoạch. Để dành tiền cho tuổi hưu. Hãy dự trù. Nhưng đồng thời cũng cần biết sống cho giây phút này. sống thật đầy đủ.

(Trích Đời ngắn đừng ngủ dài 1 Robin Sharma, Phạm Anh Tuấn dịch,

NXB Trẻ, 2017, tr.25-26)

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2. Nêu tên một biện pháp tu từ cú pháp được sử dụng trong đoạn (2).

Câu 3. Anh/Chị hiểu thế nào về câu hỏi của tác giả: Tại sao phải chờ đến già mới hưởng thụ cuộc sống?

Câu 4. Theo anh/chị, việc lên kế hoạch cho tương lai có cần thiết đối với cuộc đời mỗi người không? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm)

Từ thông điệp của đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về tác hại của thói quen trì hoãn công việc.

Câu 2 (5.0 điểm)

Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh:

          “Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…”

                   (Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.155)

Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh:

         “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…”

                             (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.32)

Cảm nhận của anh/chị về ý nghĩa của những kết thúc trên.


                                                                       – Hết –


SỞ GD&ĐT ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG


ĐỀ THI THỬ LẦN I

Năm học: 2017 - 2018

Môn: NGỮ VĂN 12

Thời gian làm bài: 120 phút


Phần I : Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

          Một người đàn ông đang đánh bóng chiếc xe hơi mới mua của mình thì cô con gái 4 tuổi của ông lại dùng đá để viết lên chiếc xe ấy. Điên tiết, ông ta cầm lấy bàn tay của đứa trẻ và đánh rất nhiều, và ông không nhận ra mình đang đánh bằng một cái mỏ lết. Lúc đến bệnh viện, cô bé phải cưa bỏ tất cả những ngón tay của mình vì vết thương quá nghiêm trọng.

          Khi đứa trẻ nhìn thấy cha, cô bé tuyệt vọng hỏi “Cha ơi, đến khi nào thì ngón tay con sẽ mọc lại?”. Người cha đau đớn trong lặng câm. Ông trở lại chiếc xe hơi và tức giận đá vào nó. Phải đến lúc thấm mệt ông mới nhìn vào chỗ có những vết rạch mà con gái ông đã viết. Cô bé đã viết:

          “Con yêu cha”.

                                               (Theo Quà tặng cuộc sống)

 

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt  chính được sử dụng trong văn bản trên? (0,5 điểm)

Câu 2. Câu nói: “Cha ơi, đến khi nào thì ngón tay con sẽ mọc lại?” thể hiện tâm trạng gì của cô bé? (0,5 điểm)

Câu 3. Theo anh/chị, vì sao Người cha đau đớn trong lặng câm? (1,0 điểm)

Câu 4. Câu văn khép lại câu chuyện mà cô bé đã viết: “Con yêu cha.” gửi gắm bức thông điệp gì? (1,0 điểm)

Phần II : Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự giận dữ của con người  được rút ra  trong văn bản ở phần Đọc hiểu.

Câu 2: (5.0 điểm) So sánh truyện ngắn Chữ người tử tù (Ngữ văn 11, tập một) với tùy bút Người lái đò Sông Đà (Ngữ văn 12. Tập 2), nhận xét những điểm thống nhất và khác biệt của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.

                                                                       – Hết –





ĐỀ ÔN THI THPT QUỐC GIA NĂM 2017

MÔN NGỮ VĂN

 

ĐỀ 1

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
                                        Mười nén nhang ở ngã ba Đồng Lộc

(Mai Văn Phấn)

Tháng ngày gương lược về đâu

Chân trời để xõa một màu cỏ non

 

Các cô nằm lại trên cồn

Những chùm bồ kết khô giòn trong cây

 

Khăn thêu những dấu tay gầy

Thành mây Đồng Lộc bay bay trắng trời

 

Người ơi, tôi lại gặp người

Hơi bom còn thổi rụng rời cát khô

 

Nhang này quặn nỗi đau xưa

Tôi nay, tôi của cơn mưa về nguồn

                                         (Cầu nguyện ban mai, NXB Hải Phòng, 1997)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên ? Bài thơ được viết theo thể thơ nào ? (0,5 điểm)

Câu 2. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: “Tháng ngày gương lược về đâu” ? (0,5 điểm)

Câu 3.Những câu thơ nào hàm ý chỉ sự hi sinh của các cô gái trẻ ? Anh/ chị hiểu như thế nào về những câu thơ ấy ? (1,0 điểm)

Câu 4. Bài thơ nhắn gởi điều gì ? (1,0 điểm)

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm )

Từ bài thơ trích trong phần Đọc – hiểu. Anh chị hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh chị về lòng biết ơn đối với những chiến sĩ đã hi sinh trong hai cuộc kháng chiến kháng chiến chống Pháp và Mĩ ?

Câu 2. (5,0 điểm)

         Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong đoạn trích tùy bút cùng tên của Nguyễn Tuân. Qua đó, anh/chị hãy bình luận ngắn gọn về quan điểm thẩm mĩ độc đáo của tác giả khi miêu tả con người.

 

 

--------Hết-------

 

                                         

ĐÁP ÁN – THANG ĐIỂM ĐỀ 1

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

 

ĐỌC HIỂU

3,0

1

Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm

Thể thơ: Lục bát

0,5

2

Biện pháp tu từ: Nhân hóa, hoán dụ

0,5

3

Những câu thơ hàm chỉ sự hi sinh của các cô gái trẻChân trời để xõa một màu cỏ non/ Các cô nằm lại trên cồn

Câu thơ Chân trời để xõa một màu cỏ non chỉ cái chết đẹp của các cô gái, họ chết để sự sống được hồi sinh. Còn câu “Các côn nằm lại trên cồn” chỉ nơi hi sinh của các cô gái trẻ.

1,0

4

Có thể trình bày theo những cách khác nhau, nhưng cần hướng đến một số nội dung như sau:

- Bài thơ là nén nhang thơm đầy thành kính của tác giả trước mộ của các cô thanh niên xung phong hi sinh tại ngã ba Đồng Lộc.

- Bài thơ là lời tự nhủ tác giả cũng như là lời nhắn nhủ đến bao người, bao thế hệ trẻ về thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”.

1,0

II

 

LÀM VĂN

 

1

Viết đoạn văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ: về lòng biết ơn đối với những chiến sĩ đã hi sinh trong hai cuộc kháng chiến kháng chiến chống Pháp và Mĩ

2,0

 

a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận

0,25

Có đủ các phần mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn. Mở đoạn nêu được vấn đề, thân đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề.

 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

0,25

Lòng biết ơn đối với những chiến sĩ đã hi sinh trong hai cuộc kháng chiến kháng chiến chống Pháp và Mĩ

 

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động

 

Nêu vấn đề: Kế thừa truyền thống yêu nước, bất khuất, kiên cường qua hai cuộc kháng chiến khốc liệt biết bao chiến sĩ dũng cảm đã hi sinh cho đất nước.

- Bàn luận:

+ Là những người được hưởng thành quả từ sự hi sinh chúng ta cần ghi lòng tạc dạ công lao của những thế hệ đi trước đã ngã xuống cho đất nước.

+ Cần trân trọng và tự hào về lịch sử dân tộc.

+ Mỗi thế hệ thanh niên hiện nay cần ra sức giữ gìn nền hòa bình, độc lập mà biết bao người đã đổi xương máu mới có được. Phải xống xứng đáng với sự hi sinh của thế hệ cha anh đi trước…

- Bài học nhận thức và hành động:

+ Góp sức xây dựng đất nước tươi đẹp hơn.

+ Nỗ lực học tập để xây dựng một đất nước giàu mạnh.

+ Sẵn sàng đứng lên khi đất nước kêu gọi, cầm chắc tay súng để bảo vệ hòa bình cho dân tộc Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

 

d. Sáng tạo

0,25

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới vẻ về vấn đề nghị luận.

 

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu

0,25

Đảm bảo các quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

 

2

Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong đoạn trích.

Bình luận ngắn gọn về quan điểm thẩm mĩ độc đáo của tác giả khi miêu tả con người.

5,0

 

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

0,5

Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

0,5

Hình tượng người lái đò sông Đà trong đoạn trích; quan điểm thẩm mĩ độc đáo của tác giả khi miêu tả con người.

 

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng

 

Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích và nhân vật người lái đò sông Đà:

+ Nguyễn Tuân là nhân vật lớn, là người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Ông cũng là một nghệ sĩ tài hoa, uyên bác, cá tính độc đáo, đặc biệt thành công ở thể tùy bút.

+ Tác phẩm được in trong tập tùy bút Sông Đà gồm 15 bài tùy bút. Đây là kết quả của nhiều dịp ông đi thực tế ở Tây Bắc trong thời kì kháng chiến chống Pháp

+ Cùng với hình tượng sông Đà, người lái đò sông Đà là một hình tượng nổi bật, ấn tượng của tùy bút.

- Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong đoạn trích:

+ Phẩm chất:

. Trí dũng, tài hoa: bình tĩnh đương đầu với trùng vây đá dữ dội, hiểm độc, nhắm đúng luống sinh mà đi, biết đổi chiến thuật ở từng vòng thạch trận để đưa thuyền lao vun vút

. Phong thái ung dung, bình dị: xem những thử thách vừa qua rất bình thường, ung dung đốt lửa, nướng cơm, bàn về cá… sau cuộc chiến khốc liệt với thác đá sóng nước

+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật: so sánh, ví von, liên tưởng độc đáo, bất ngờ; từ ngữ phong phú, sống động, gợi hình gợi cảm; câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu.

- Bàn luận về quan điểm thẩm mĩ độc đáo của tác giả khi miêu tả con người:

+ Có ý thức cao tạo nên tình huống thử thách để nhân vật bộc lộ phẩm chất

+ Tiếp cận con người trên phương diện tài hoa, nghệ sĩ nên mỗi nhân vật đều là những nghệ sĩ trong nghề nghiệp của mình

+ Thể hiện được khả năng tuyệt vời trong sự quan sát tinh tường, trí tưởng tượng phong phú và tư duy liên tưởng so sánh bất ngờ

0,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

d. Sáng tạo

0,5

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới vẻ về vấn đề nghị luận.

 

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu

0,5

Đảm bảo các quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

 

 

 

ĐIỂM TOÀN BÀI THI: I + II = 10,00 điểm

 

---------Hết---------

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐỀ 2

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
      Trên mộ của một giáo sư người Anh ở cung điện Westminster có viết những lời sau đây: Khi tôi còn trẻ và tự do, trí tưởng tượng của tôi không có giới hạn, tôi đã mơ về việc có thể thay đổi cả thế giới. Khi tôi lớn hơn và khôn ngoan hơn, tôi nhận ra thế giới sẽ không thay đổi và tôi quyết định chỉ thay đổi đất nước mình. Nhưng ngay cả đất nước tôi cũng vậy, dường như không thể thay đổi được. Khi tôi bước vào tuổi xế bóng và với nỗ lực cuối cùng đầy tuyệt vọng, tôi quyết định chỉ thay đổi gia đình mình, những con người gần gũi với tôi nhất nhưng họ vẫn là họ và vào giây phút cuối cùng của cuộc đời tôi chợt nhận ra nếu tôi thay đổi bản thân trước thì có lẽ tôi có thể thay đổi được gia đình mình. Có được sự khích lệ và tình cảm của họ, tôi có thể làm cho đất mình tốt đẹp hơn và biết đâu tôi đã có thể thay đổi được cả thế giới.

     Những người gặp khó khăn trong các  mối quan hệ thường chỉ nhìn vào người khác chứ không chịu nhìn nhận bản thân để giải thích vấn đề. Để thay đổi khiếm khuyết nào của bản thân, chúng ta phải xem lại chính mình và sẵn sàng chấp nhận. Nhà phê bình Samuel Johnson khuyên: “Những người không hiểu biết nhiều về con người thường lãng phí cả cuộc đời tìm kiếm hạnh phúc bằng cách thay đổi mọi thứ mà quên mất phải thay đổi chính con người mình. Nỗ lực của họ không mang lại kết quả mà còn nhân lên sự đau khổ”.

(Trích Johnson Maxwell, Thuật đắc nhân tâm, NXB Lao động, 2016, tr.48-49)

 

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên ? (0,5 điểm)

Câu 2. Xác định câu chủ đề của đoạn văn trên ? (0,5 điểm)

Câu 3.Tóm tắt quá trình chuyển biến về nhận thức của giáo sĩ người Anh trong đoạn trích ? (1,0 điểm)

Câu 4. Theo tác giả trong đoạn trích, trong các mối quan hệ xã hội, việc quan sát chính bản thân của mỗi người có vai trò như thế nào ? (1,0 điểm)

 

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm )

Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh chị về quan điểm được nêu trong văn bản dẫn ở phần Đọc – hiểu trên đây: Hãy thay đổi bản thân mình trước khi nghĩ đến việc thay đổi mọi thứ ngoài kia.

Câu 2. (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong đoạn trích “Đất Nước” (Trích Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa…

mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó…

(Ngữ Văn 12, tập  một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.118)

 

 

--------Hết-------

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐÁP ÁN – THANG ĐIỂM ĐỀ 2

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

 

ĐỌC HIỂU

3,0

1

Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận

0,5

2

“Những người không hiểu biết nhiều về con người thường lãng phí cả cuộc đời kiếm tìm hạnh phúc bằng cách thay đổi chính con người mình”

0,5

3

Khi còn trẻ, giáo sĩ người Anh mơ ước thay đổi cả thế giới, rồi thu hẹp ước mơ muốn thay đổi đất nước, rồi hẹp hơn nữa, muốn thay đổi gia đình và người thân. Nhưng đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời, ông mới nhận ra điều quan trọng là phải thay đổi bản thân mình.

1,0

4

Theo tác giả, trong các mối quan hệ xã hội, cần xuất phát từ bản thân để lí giải mọi vấn đề, thay đổi các khiếm khuyết của bản thân, thay đổi chính bản thân mình. Từ thay đổi chính bản thân, chúng ta sẽ thay đổi thế giới.

1,0

II

 

LÀM VĂN

 

1

Viết đoạn văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ về ý kiến: “Hãy thay đổi bản thân mình trước khi nghĩ đến việc thay đổi mọi thứ ngoài kia”.

2,0

 

a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận

0,25

Có đủ các phần mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn. Mở đoạn giới thiệu được vấn đề, thân đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề.

 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

0,25

Hãy thay đổi bản thân mình trước khi nghĩ đến việc thay đổi mọi thứ ngoài kia.

 

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động

 

Giải thích: “Hãy thay đổi bản thân mình trước khi nghĩ đến việc thay đổi mọi thứ ngoài kia” khẳng định mỗi người phải tự ý thức cá nhâ. Nghĩa là tự quan sát, đánh giá, phán xét bản thân về mọi mặt: Ưu, nhược điểm, năng lực, hạn chế, đúng sai của bản thân…Tự ý thức giúp ta hoàn thiện bản thân, có khả năng tự thích ứng tốt với cuộc sống trước, sau đó mới tùy theo sức mà nghĩ tới chuyện thay đổi thế giới ngoài kia.

- Bàn luận:

+ Khi còn bé chúng ta thường muốn mọi người làm theo ý mình. Nhưng khi lớn lên, chúng ta nhận ra yêu cầu, đòi hỏi người khác phải như ý riêng của chúng ta sẽ khiến chúng ta phiền muộn, mệt mỏi, bế tắc. Đòi hỏi người khác làm ý ta là một đòi hỏi vô lí. Người khác chỉ thực sự thay đổi khi bản thân họ muốn. Muốn mọi sự tốt đẹp bạn phải xem xét và điều chỉnh chính bản thân mình.

+ Tuy nhiên, khi chúng ta thay đổi bản thân để sống tốt với người khác có thể chúng ta vẫn bị gặp những điều đau khổ, những chuyện bất công. Nhưng nghĩ đó là thử thách cho khát vọng hướng thiện của bản thân khiến chúng ta bình tâm hơn.

- Bài học nhận thức, hành động: Chỉ có tự ý thức bản thân thì chúng ta mới xử lí tốt các mối quan hệ xã hội, đánh giá đúng ta và người, định hình những nét tính cách tốt đẹp của bản thân, hoàn thiện bản thân. Khi mỗi chúng ta cố gắng sống tốt thì cuộc sống xã hội cũng dần trờ nên tốt đẹp hơn. Và đó chính là lúc chúng ta có cơ hội để thay đổi người thân, gia đình, đất nước mình và thế giới.

 

 

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

d. Sáng tạo

0,25

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới vẻ về vấn đề nghị luận.

 

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu

0,25

Đảm bảo các quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

 

2

Cảm nhận đoạn thơ “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi…Đất Nước có từ ngày đó” trong đoạn trích “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm.

5,0

 

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

0,5

Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

0,5

Đoạn thơ “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi…Đất Nước có từ ngày đó” trong đoạn trích “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm.

 

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng

 

-         Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích

+ Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943 trong một gia đình trí thức tại Huế.  Là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ ông hấp dẫn bởi sự kết hợp giwuax cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng.

+ Đoạn trích “Đất Nước” thuộc phần đầu chương V của trường ca “Mặt đường khát vọng”. Đây là một đoạn trích hay về đề tài quê hương, đất nước.

+ Chín câu thơ trên là sự cảm nhận và lí giải của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước ở phương diện phong tục tập quán, lịch sử lâu đời của dân tộc.

- Phân tích chín câu thơ

+ Đất Nước gắn liền với những câu chuyện cổ tích, ca dao.

+ Đất Nước gắn liền với truyền thống văn hóa, phong tục của người Việt

+ Đất Nước gắn liền với lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc

+ Đất Nước gắn liền với những thứ bình dị, nhỏ bé, gắn bó với cuộc sống trong mỗi gia đình.

- Bàn luận

+ Đoạn thơ đậm đặc chất liệu văn hóa dân gian.

+ Nhiều hình ảnh giàu sức gợi

+ Giọng điệu của đoạn thơ là giọng tâm tình thiết tha, trầm lắng, trang nghiêm.

0,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,5

 

 

 

1,0

 

 

 

d. Sáng tạo

0,5

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới vẻ về vấn đề nghị luận.

 

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu

0,5

Đảm bảo các quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

 

 

 

ĐIỂM TOÀN BÀI THI: I + II = 10,00 điểm

 

---------Hết---------

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐỀ 3

I.ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Mẹ ạ, nếu kiếp sau, con được chọn, con vẫn chọn là con của mẹ. Mẹ con ta sẽ yêu thương và bù đắp cho nhau mẹ nhỉ? Ở trên này, con ít khi thành công lắm nhưng khi con mệt mỏi, con thất bại, con sắp gục ngã, con đã biết đi tìm mẹ…
Mẹ ơi, hãy là một bà tiên hiền dịu và cho con một điều ước nhỏ nhoi đi mẹ. Con ước giản dị thôi, bà tiên ấy được sống lại với con một ngày, để con được chăm sóc - việc mà trước đây con chưa hề làm. Con sẽ không làm mẹ khóc đâu, con hứa. Và điều cuối cùng con muốn nói với mẹ rằng: “Con nhớ mẹ quá nhiều, nợ mẹ quá nhiều... Kiếp sau, dù sao đi nữa, mẹ sẽ mãi là mẹ của con. Con thương mẹ nhiều!”
(Trích Thư gửi mẹ hiền- Nguyễn Anh Thư, học sinh lớp 9 Báo Dantri.com ngày 20/10/2016)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên. (0,5 điểm)

Câu 2. Anh chị hiểu thế nào về câu văn: “Ở trên này, con ít khi thành công lắm nhưng khi con mệt mỏi, con thất bại, con sắp gục ngã, con đã biết đi tìm mẹ…”. (1,0 điểm)

Câu 3. Theo anh chị, vì sao bạn Anh Thư lại viết cho mẹ đã mất 2 năm trước của mình. “Con nhớ mẹ quá nhiều, nợ mẹ quá nhiều…” (1,0 điểm)

Câu 4. Đoạn trích trên gợi cho anh chị điều gì tâm đắc nhất (0,5 điểm)

II.LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm )
Anh chị hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về món nợ mẹ quá nhiều được bạn Anh Thư nhắc đến trong đoạn trích.

Câu 2 (5,0 điểm)

         Phân tích nhân vật Trương Ba trong đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ). Từ đó, bình luận ngắn gọn về thông điệp nhân sinh sâu sắc của tác giả gửi gắm trong vở kịch này.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

--------Hết----

 

  ĐÁP ÁN – THANG ĐIỂM ĐỀ 3

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

 

ĐỌC HIỂU

3,0

1

Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm

0,5

2

 Trên cuộc đời khi không còn mẹ, con từng trải qua thành công và nhiều thất bại, mệt mỏi và bi quan, tiêu cực, những lúc đó, con tìm đến mẹ, để được an ủi, chia sẻ và mong được mẹ chỉ bảo. Mẹ vẫn là chỗ dựa tinh thần vô cùng quan trọng của con, dù là trong suy nghĩ và tâm tưởng.

1,0

3

 Bạn Anh Thư viết như vậy hiểu là: rất thương yêu và kính trọng mẹ, không lúc nào quên hình bóng mẹ yêu. Con nợ mẹ nhiều, hiểu là còn nhiều lỗi với mẹ: lời xin lỗi, lòng hiếu thảo, lòng biết ơn, chưa cố gắng trong mọi việc, chưa biết thương mẹ, chưa hiểu mẹ và thờ ơ, chưa quan tâm chăm sóc mẹ ...Con làm mẹ lo lắng và buồn lòng.

1,0

4

-Tình yêu thương mẹ là thiêng liêng nhất.
-Mẹ là quý nhất, mẹ là tất cả, không có ai bằng mẹ.
- Hãy biết sống hiếu thảo và yêu thương, kính trọng, chăm sóc mẹ.
- Điều đau khổ nhất, bất hạnh nhất là không còn mẹ. 
-Hãy sống đúng phận làm con, đừng để mẹ lo lắng và khóc nhiều vì con.
- Hãy làm điều gì đó ngay cho mẹ vui, khi chưa muộn.

0,5

II

 

LÀM VĂN

 

1

Viết đoạn văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ: Suy nghĩ về món nợ mẹ quá nhiều.

2,0

 

a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận

0,25

Có đủ các phần mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn. Mở đoạn nêu được vấn đề, thân đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề.

 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

0,25

Suy nghĩ về món nợ mẹ quá nhiều.

 

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động

 

-Giải thích, bàn luận:

Con nợ mẹ nhiều, hiểu là còn nhiều lỗi với mẹ:

+ Lời xin lỗi,

+ Lòng hiếu thảo,

+ Lòng biết ơn,

+Chưa cố gắng trong mọi việc,

+Chưa biết thương mẹ,

+Chưa hiểu mẹ và thờ ơ,

+Chưa quan tâm chăm sóc mẹ ...

+Con làm mẹ lo lắng và buồn lòng.

- Bài học: Hãy yêu thương mẹ khi còn có thể. Học tập và rèn luyện bản thân để không phụ công mẹ cha.

 

 

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

d. Sáng tạo

0,25

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới vẻ về vấn đề nghị luận.

 

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu

0,25

Đảm bảo các quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

 

2

Phân tích nhân vật Trương Ba trong đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt. Bình luận ngắn gọn về thông điệp nhân sinh sâu sắc của tác giả gửi gắm trong vở kịch

5,0

 

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

0,5

Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

0,5

Nhân vật Trương Ba trong đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt; thông điệp nhân sinh sâu sắc của tác giả gửi gắm trong vở kịch

 

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng

 

Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và đoạn trích:

+ Lưu Quang Vũ được coi là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại với hàng loạt những vở kịch gây chấn động dư luận.

Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của ông. Vở kịch sáng tác năm 1981, đến năm 1984 mới ra mắt công chúng. Đoạn trích nằm ở cảnh VII và màn kết của vở kịch.

- Phân tích nhân vật Trương Ba trong đoạn trích:

+ Phẩm chất:

. Là người nông dân hiền lành, tử tế nhưng lâm vào cảnh trái ngang: Do sự tắc trách của quan thiên đình và sự vội vàng của Đế Thích, Trương Ba giỏi đánh cờ đã bị bắt chết nhầm rồi phục sinh trong thân xác của anh hàng thịt, hoàn toàn xa lạ với con người ông trước đây.

. Là người ngay thẳng, trong sạch, luôn dằn vặt khi bị tha hóa, có ý thức tranh đấu với những biểu hiện xấu xa, tầm thường để bảo vệ phẩm giá: Trương Ba đau khổ nhưng đành chấp nhận sự thật, ngậm ngùi khi nhận thức cần phải thỏa hiệp cùng xác hàng thịt để tồn tại. Càng ngày Trương Ba càng thấm thía nỗi đau khi nhận ra tình trạng vênh lệch giữa hồn và xác; day dứt khi bị người thân xa lánh. Từ đó, Trương Ba nhận ra: con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hòa, không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. Vì vậy, Trương Ba đã gọi Đế Thích xuất hiện để trả xác cho hàng thịt.

. Là người nhân hậu, vị tha, thấu hiểu ý nghĩa của sự sống đích thực: Khi được Đế Thích đề nghị sẽ giúp cho phục sinh lần nữa trong thân xác cu Tị, Trương Ba từ chối, nhường quyền sống cho cu Tị, chấp nhận cái chết.

+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Dựa  vào cốt truyện dân gian, tác giả đã sáng tạo nên một nhân vật với hành động phù hợp hoàn cảnh, tính cách, thể hiện được sự phát triển của tình huống kịch; ngôn ngữ nhân vật sinh động, gắn với tình cảnh, tâm trạng cụ thể; giọng điệu biến hóa, lôi cuốn, đặc biệt có những lời thoại vừa hướng ngoại vừa hướng nội.

- Bình luận ngắn gọn về thông điệp nhân sinh sâu sắc của tác giả gửi gắm trong vở kịch:

+ Phê phán những biểu hiện tiêu cực trong cuộc sống như thói chạy theo những ham muốn vật chất tầm thường, chỉ thích hưởng thụ đến mức phàm phu, thô thiển; chủ nghĩa duy tâm chủ quan, luôn lấy cớ tinh thần là quý mà không chăm lo thích đáng đến cuộc sống vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn; tình trạng sống giả, không dám và không là chính mình.

+ Gửi đến thông điệp: một trong những điều quý giá nhất của mỗi người là được sống trọn vẹn với những gì mình có và theo đuổi, là chính mình. Sự sống chỉ có ý nghĩa khi con người được sống trong sự hài hòa tự nhiên giữa thể xác và tâm hồn.

0,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

d. Sáng tạo

0,5

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới vẻ về vấn đề nghị luận.

 

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu

0,5

Đảm bảo các quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

 

 

 

ĐIỂM TOÀN BÀI THI: I + II = 10,00 điểm

 

---------Hết---------

 

 

 

 

 

 

 

ĐỀ 4

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
            Lịch sự với người bắt đầu bằng lịch sự với mình, và lịch sự vói mình bắt đầu từ lịch sự với thân thể, với bề ngoài, quần áo, cử chỉ, nói năng, đi đứng.

        Trong mối liên hệ mật thiết giữa thân và tâm, cái miệng là sứ giả đặc biệt của lịch sự. Hơn ba mươi năm trước, khi lần đầu về lại quê hương sau chiến tranh, tôi nhớ quay quắt một tiếng dường như biến mất trên môi mọi người, tiếng “cảm ơn”.

          Cái miệng mở ra một tiếng “cảm ơn” đem vui biết bao cho người nhận, mà cũng tỏ ra nỗi vui biết bao trong lòng người cho. Lịch sự là đem vui đến cho người và cho mình.

            Hãy nhìn đứa bé “cảm ơn” khi mình cho nó viên kẹo: Mắt nó sáng lên, miệng nó tươi, mình cho kẹo mà tưởng như kẹo đang ngọt trong miệng mình. Làm sao có thể tưởng tượng được rằng đứa bé nhận kẹo mà không nói một tiếng gì ?

Cảm ơn là hai tiếng dạy con từ nhỏ để con biết mình là một thành phần của xã hội, biết có mình và có người, biết nhận và biết cho, biết chia sẻ là luật của tương giao tương thân, biết đáp lại một món quà bằng một món quà, dù nhỏ, dù chẳng có gì, nhưng trao gởi từ lòng.

         Đẹp nhất của cái miệng để cho và để nhận là nụ cười. Cười khi nhận đã đẹp. Cười khi không nhận gì cả lại càng đẹp hơn vì đấy là cho vô điều kiện cái gì quý nhất của tâm hồn. Ấy là cách cho giữa hai người thương nhau. Thương ai, mình muốn người đó vui. Và cho vui, không gì bằng tự mình vui.

        Đời sống lứa đôi hạnh phúc khi mỗi người biết tự thề với mình phải vui bên cạnh người kia. Mở rộng cách cho đó trong giao tiếp xã hội, lịch sự là đem vui đến cho người gần, đem vui đến cho người gặp. Ai biết cười trong mọi hoàn cảnh, người đó chữa hết mọi thứ bệnh, nhất là cái bệnh giận.

         Một nụ cười xóa tan cơn giận nơi mình và nơi người khác. Lịch sự là một thứ thể thao làm nhũn đi nhưng xng động, giống như khi ta vươn vai để giãn gân cốt. Con người khác con vật ở chỗ ấy: Con vật hành động theo bản năng, hễ giận là xông tới; con người biết vượt lên trên bản năng để cư xử với nhau đẹp hơn.

          Lịch sự là sự chiến thắng bản năng để vun trồng mầm mống văn hó có sẵn trong tính người. Lịch sự đó mới chính là lịch sự đích thực, lịch sự của nụ cười, không phải là thứ lịch sự rởm của cái lưng khom xuống.

(Trích Cao Huy Thuần, Một ngày lịch sự, dẫn theo http://doanhnhansaigon.vn

 

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên ? (0,5 điểm)

Câu 2: Tìm hai từ quan trọng nhất, xuất hiện nhiều lần nhất trong đoạn trích này. Qua đó, xác định chủ đề của đoạn trích. (0,5 điểm)

Câu 3. Hãy giải thích nhận định: “Lịch sự là chiến thắng bản năng để vun trồng mầm mống văn hóa có sẵn trong tính người”? (1,0 điểm)

Câu 4.Vì sao tác giả quan niệm “lịch sự đích thực” là “lịch sự của nụ cười” ? (1,0 điểm)

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)

Dựa vào văn bản trên anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về văn hóa ứng xử của giới trẻ nơi cộng đồng.

Câu 2 (5,0 điểm)

         Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Mị trong đêm đông cắt dây trói cho A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài.

 

---------Hết---------

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐÁP ÁN – THANG ĐIỂM ĐỀ 4

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

 

ĐỌC HIỂU

3,0

1

Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận

0,5

2

- Lịch sự

- Chủ đề: Bàn về văn hóa ứng xử lịch sự; một biểu hiện quan trọng của lịch sự đó là nụ cười.

0,5

3

Bản năng là sự thể hiện phần động vật của mỗi con người. Hành động theo bản năng là hành động theo những xung động tức thời. Lúc đó, người ta nói hoặc làm chủ yếu theo cảm xúc và vì không suy nghĩ nên hậu quả của những hành động ấy thường rất xấu. Theo tác giả mỗi chúng ta muốn xây dựng những mầm mống văn hóa ứng xử tốt đẹp cho mình thì phải chế ngự được phần “bản năng” của chính mình. Nghĩa là mỗi khi hành động, cần phải suy nghĩ thật kĩ càng, tránh làm cho người khác bị tổn thương, bị xúc phạm. Kiềm chế bản thân chính là bước khởi đầu của việc xây dựng lịch sự trong ứng xử - thứ được xem là có sẵn trong “tính người”.

1,0

4

Phép lịch sự có nhiều cách thể hiện, song nụ cười có tác dụng mang lại niềm vui, xóa tan cơn giận. Đồng thời cũng có ý nghĩa kìm chế những xun động bản năng. Nó mang đến sự thoải mái và thân thiện trong cuộc giao tiếp. Do đó lịch sự đích thực là lịch sự của nụ cười.

1,0

II

 

LÀM VĂN

 

1

Viết đoạn văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ: về văn hóa ứng xử của giới trẻ nơi cộng đồng.

2,0

 

a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận

0,25

Có đủ các phần mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn. Mở đoạn nêu được vấn đề, thân đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề.

 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

0,25

Văn hóa ứng xử của giới trẻ nơi cộng đồng.

 

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động

 

Nêu vấn đề: Văn hóa ứng xử nơi công cộng được xem là một kĩ năng quan trọng đối với mỗi người. Ứng xử có văn hóa nơi công cộng là nếp sống văn minh cần được mọi người coi trọng, nhất là giới trẻ.

- Phân tích, bàn luận:

+ Xã hội hiện đại, giới trẻ càng tự tin, mạnh dạn hơn trong giao tiếp. Tuy nhiên nhiều bạn trẻ có cách ứng xử thiếu văn hóa nơi công cộng: nói năng tục tĩu, ồn ào, nói chuyện điện thoại oang oang hoặc thể hện tình cảm thái quá nơi đông người, trong công viên, chen lấn xô đẩy khi xếp hàng, bóp còi inh ỏi khi tắc đường, đi xe buýt không nhường ghế cho người già và phụ nữ….

+ Giới trẻ có cách ứng xử theo bản năng, thiếu kiềm chế..

+ Văn hóa ứng xử không thể đem ra cân đo đong đếm và cũng hẳn tỉ lệ thuận với trình độ học vấn của con người. Nó chủ yếu là do trình độ nhận thức và sự quan tâm hướng dẫn, giáo dục của gia đình và nhà trường.

- Bài học nhận thức và hành động:

+ Cần nâng cao ý thức cá nhân, sống có văn hóa, biết tôn trọng bản thân mình và mọi người xung quanh, biết chia sẻ, đồng cảm.

+ Nỗ lực rèn luyện văn hóa ứng xử nơi công cộng…

 

 

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

 

d. Sáng tạo

0,25

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới vẻ về vấn đề nghị luận.

 

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu

0,25

Đảm bảo các quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

 

2

Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Mị trong đêm đông cắt dây trói cho A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài

5,0

 

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

0,5

Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

0,5

Diễn biến tâm lí nhân vật Mị trong đêm đông cắt dây trói cho A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài.

 

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng

 

Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích và nhân vật Mị

+ Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen. Ông sáng tác nhiều thể loại, có số lượng sách đạt kỉ lục trong nền văn học hiện đại. Ông là nhà văn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại.

+ Tác phẩm được in trong tập “Truyện Tây Bắc”. Truyện viết về sự vùng dậy của đồng bào Mông qua cuộc đời Mị và A Phủ.

+ Mị là con dâu gạt nợ của nhà Thống lí Pá Tra. Mị sống trong tủi cực, bị bóc lột sức lao động, tê liệt lòng ham sống. M đã gặp A Phủ - một người cùng cảnh ngộ.

- Diễn biến tâm lí nhân vật Mị trong đêm đông cắt dây trói cho A Phủ

+ Ban đầu, Mị vẫn thản nhiên hơ lửa khi nhìn thấy cảnh A Phủ bị trói.

+ Nhưng sau đó, khi chứng kiến dòng nước mắt chảy xuống gò má đã xạm đen lại của A Phủ, Mị đã đồng cảm, M thương A Phủ. 

+ Thương mình, thương người, Mị càng nhận rõ tội ác của cha con thống lí.

+ Dù trong lòng vẫn có những sợ hãi cứu A Phủ M sẽ bị trói thay vào đó. Nhưng Mị đã cứu A Phủ rồi cùng A Phủ bỏ trốn khỏi Hồng Ngài.

- Bàn luận:

+ Diễn biến tâm lí nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân diễn ra hợp lí, tự nhiên. Mị đã dám định ăn lá ngón tự tử thì việc liều lĩnh cắt dây trói cho A Phủ là hoàn toàn có thể.

M đã giải thoát cho A Phủ và cho chính mình. M đã chiến thắng được thần quyền và cường quyền. Chạy theo A Phủ là chạy theo tự do, hạnh phúc.

+ Diễn biến tâm lí của nhân vật Mị là một đoạn văn hay, thể hiện được giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực của tác phẩm.

0,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

d. Sáng tạo

0,5

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới vẻ về vấn đề nghị luận.

 

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu

0,5

Đảm bảo các quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

 

 

 

ĐIỂM TOÀN BÀI THI: I + II = 10,00 điểm

 

---------Hết---------

 

 



SỞ GD-ĐT TP ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG

ĐỀ 1 KIỂM TRA HỌC KỲ II – NĂM HỌC 2018-2019

MÔN : NGỮ VĂN – Khối 10

(Thời gian làm bài 120 phút)

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi 1, 2, 3, 4:

Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.

(Hồ Chí Minh, trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, NXB Sự thật, Hà Nội, 1986)

Câu 1. Nêu phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn? (0,5 điểm)

Câu 2. Đoạn văn đề cập đến nội dung gì? (1,0 điểm)

Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của hai biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: “Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.” (1,0 điểm)

Câu 4. Đoạn văn gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc? (Viết một đoạn văn từ 8 đến 10 dòng). (1,5 điểm)

II. PHẦN LÀM VĂN (6,0 điểm)

Anh/chị hãy cảm nhận tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn thơ sau:

Chiếc vành với bức tờ mây,

Duyên này thì giữ vật này của chung.

Dù em nên vợ nên chồng,

Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.

Mất người còn chút của tin,

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.

Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

Dạ đài cách mặt khuất lời,

Rưới xin giọt nước cho người thác oan.

(Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du, Ngữ Văn 10, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam)

---------------- Hết ---------------

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG

NĂM HỌC 2018-2019

ĐÁP ÁN THI HỌC KỲ II – KHỐI 10

MÔN : NGỮ VĂN


Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I.


ĐỌC HIỂU

4.0


1

Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận

0.5

2

Nội dung đoạn văn:

- Khẳng định tinh thần yêu nước của nhân dân ta.

- Chính tinh thần yêu nước đã giúp nhân dân ta chiến thắng mọi kẻ thù.

Học sinh có thể diễn đạt theo cách khác nhau nhưng phải hợp lý, có sức thuyết phục.

+ Điểm 1,0: Trả lời đúng, đầy đủ nội dung trên, hoặc diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lý.

+ Điểm 0,5: Trả lời được ½ nội dung trên.

+ Điểm 0,25: Trả  lời chung chung chưa thật rõ ý.

+ Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.

1.0

3

Học sinh trả lời trong các biện pháp tu từ sau:

- Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: Ẩn dụ; Điệp từ; Liệt kê; Lặp cấu trúc; Nhân hóa.

- Tác dụng:

+ Khẳng định sức mạnh của lòng yêu nước.

+ Tạo nhịp điệu sôi nổi, mạnh mẽ cho câu văn.

+ Thể hiện niềm tự hào của Hồ Chí Minh về truyền thống quý báu của dân tộc ta.

1.0

+ Điểm 1,0: Trả lời đúng 2 biện pháp tu từ và hiệu quả biểu đạt của các biện pháp đó.


+ Điểm 0,5: Trả lời đúng và nêu được hiệu quả biểu đạt 1 biện pháp tu từ hoặc chỉ ra được 2 biện pháp tu từ nhưng không nêu được hiệu quả biểu đạt.


+ Điểm 0.25: Chỉ ra được một biện pháp tu từ.


Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.



Lưu ý:

- Nếu HS nêu đúng tên biện pháp tu từ nhưng chỉ ra sai thì không cho điểm.

- HS có thể trả lời riêng tác dụng của từng biện pháp hoặc trả lời gộp tác dụng của 2 biện pháp đều cho điểm.


4

Có thể diễn đạt theo các cách khác nhưng phải hợp lý, có sức thuyết phục. Học sinh hướng vào những nội dung sau:

- Phải giữ gìn truyền thống tốt đẹp và quý báu của dân tộc ta.

- Cần học tập và rèn luyện để xây dựng Tổ quốc giàu đẹp.

- Sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc trước các thế lực xâm lăng.

1.5

Điểm 1,5: Nắm được đầy đủ nội dung cũng như kỹ năng viết đoạn văn nghị luận; Diễn đạt tốt, có sức thuyết phục.


Điểm 1,0: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên song một số ý còn chưa đầy đủ hoặc cách trình bày, diễn đạt chưa thật rõ ràng, thuyết phục.


Điểm 0,5: Đáp ứng 1/3 các yêu cầu trên.


Điểm 0: Không đáp ứng được bất kỳ yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.


II.


LÀM VĂN

6.0

Học sinh có thể trình bày theo các cách khác nhau nhưng cần đảm bảo những nội dung sau.


a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận.

-  Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài.

- Mở bài nêu được vấn đề; Thân bài triển khai được vấn đề; Kết bài kết luận được vấn đề.

0.5

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Tâm trạng đau đớn, xót xa của Thúy Kiều khi rơi vào bi kịch tình yêu tan vỡ.

0.5

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; Kết hợp chặt chẽ giữa lý lẽ và dẫn chứng.


* Mở bài: Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, đoạn trích.

0.5

* Thân bài:

- Nêu hoàn cảnh, xuất xứ đoạn trích:

+ Tình yêu của Kim-Kiều đang mặn nồng thì gia đình Kiều gặp tai biến. Kiều quyết định bán mình chuộc cha.

+ Đêm trước ngày đi theo Mã Giám Sinh, Kiều  đã nhờ Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Sau lời trao duyên, Kiều trao kỉ vật tình yêu cho Thúy Vân.

0.5

- Kiều trao kỉ vật tình yêu: Những kỉ vật: Chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn... Những kỉ vật thiêng liêng gắn kết giữa Kim và Kiều khi xa nhau.

0.75

- Tâm trạng của Kiều sau khi trao kỉ vật: Có sự giằng xé giữa từ bỏ và níu kéo càng làm rõ hơn nỗi đau khi mất tình yêu.

0.75

- Sau khi trao kỉ vật tình yêu, Kiều tưởng tượng ra một tương lai xót xa: đó là cái chết, là một oan hồn, cầu xin người thân hãy hóa giải linh hồn đau khổ...

-> Tình yêu mãnh liệt, đắm say mà Thúy Kiều dành cho Kim Trọng, khi tình yêu không còn thì cũng coi như mình đã chết.

1.0

- Nghệ thuật của đoạn trích: Phân tích tâm lý tinh tế, kết hợp giữa độc thoại và đối thoại Làm nổi bật tâm trạng của Thúy Kiều khi tình yêu tan vỡ và những phẩm chất đáng quý của Thúy Kiều trong tình yêu. Đoạn trích cũng cho thấy sức cảm thông lạ lùng của Nguyễn Du dành cho Thúy Kiều.

0.5

* Kết bài: Đánh giá những thành công về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.

0.5

d. Sáng tạo: Sử dụng ngôn ngữ theo cách thức riêng của bản thân để bàn luận vấn đề và thể hiện suy nghĩ sâu sắc mới mẻ.

0.25

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đúng qui tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

0.25




SỞ GD-ĐT TP ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG



ĐỀ 2 KIỂM TRA HỌC KỲ II, NĂM HỌC 2018-2019

MÔN: Ngữ văn – Lớp 10


Thời gian làm bài: 90 phút (Không kể thời gian phát đề)

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 4:

Mẹ!

Có nghĩa là duy nhất
Một bầu trời

Một mặt đất

Một vầng trăng
Mẹ không sống đủ trăm năm
Nhưng đã cho con dư dả nụ cười tiếng hát […]

 

Mẹ!

Có nghĩa là ánh sáng
Một ngọn đèn thắp bằng máu con tim
Mẹ!

Có nghĩa là mãi mãi
Là cho - đi - không - đòi lại - bao giờ…

(Trích “Ngày xưa có mẹ” - Thanh Nguyên)

  1. Xác định phong cách ngôn ngữ chủ yếu của văn bản. (0,5 điểm)

  2. Nêu tên và tác dụng của 02 biện pháp tu từ trong văn bản. (1,0 điểm)

  3. Anh / chị hiểu như thế nào về những câu thơ: “Mẹ! Có nghĩa là duy nhất. / Một bầu trời, một mặt đất, một vầng trăng.” (1,0 điểm)

  4. Từ dòng cuối của đoạn thơ “Mẹ! Có nghĩa là mãi mãi / Là cho – đi – không – đòi lại – bao giờ”, anh / chị hãy viết đoạn văn ngắn từ 5 – 10 câu trình bày suy nghĩ của mình về tình mẹ. (1,5 điểm)


II. PHẦN LÀM VĂN (6.0 điểm)

Cảm nhận của bản thân về những câu thơ:

“Lòng này gửi gió đông có tiện?

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.

Non Yên dù chẳng tới miền,

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

Cảnh buồn người thiết tha lòng,

Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”

(Trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”, Ngữ văn 10, tập hai, NXB GD, Năm 2012, Tr.88)

------HẾT------

Họ và tên học sinh: ……………………………………………….

Chữ kí giám thị 1: …………………………………………………

Số báo danh: ……………….






SỞ GD-ĐT TP ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG


ĐÁP ÁN




HƯỚNG DẪN CHẤM HỌC KỲ II

NĂM HỌC 2018 – 2019

MÔN: Ngữ văn; lớp 10


(Hướng dẫn chấm có 03 trang)


PHẦN

CÂU

NỘI DUNG

ĐIỂM

I

































II

1

Văn bản chủ yếu sử dụng phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.

0,5

2

Kể tên hai biện pháp tu từ trong các

- So sánh: Mẹ - duy nhất / mãi mãi / ánh sáng.

- Phép điệp từ, lặp từ: một, mẹ, có nghĩa là.

- Ẩn dụ: Một ngọn đèn thắp bằng máu con tim.

- Phép liệt kê: bầu trời, mặt đất, vầng trăng,…

Lưu ý: Học sinh nêu được hai trong số các biện pháp nghệ thuật trên. (0,5 điểm)



1,0

3

Ý nghĩa những câu thơ: “Mẹ! Có nghĩa là duy nhất. / Một bầu trời, một mặt đất, một vầng trăng.”: Khẳng định mẹ là duy nhất đối với mỗi người trên đời cũng như chỉ có một bầu trời, một mặt đất, một vầng trăng trong thế giới này mà thôi.

1,0

4

Viết một đoạn văn ngắn từ 5 – 10 câu trình bày suy nghĩ của bản thân về tình mẹ gợi ra từ các câu thơ “Mẹ! Có nghĩa là mãi mãi / Là cho – đi – không – đòi lại – bao giờ”

- Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cầu nêu được một số ý cơ bản:

+ Tiếng gọi “mẹ!” sẽ mãi mãi sống cùng năm tháng với người con, sẽ không bao giờ tắt được trên thế gian khi tình cảm của con vẫn luôn dành cho mẹ với niềm kính trọng, yêu thương mãi mãi bất diệt với thời gian.

+ Mẹ hi sinh tất cả vì con, cho đi chứ không bao giờ cần nhận lại. Khẳng định: Tình mẹ bao giờ cũng cao cả, lớn lao, không gì đo đếm được.

+ Mỗi người con phải sống sao để xứng đáng với công lao trời bể ấy của mẹ và không phụ lòng đấng sinh thành.

- Giám khảo cho điểm linh hoạt. Chỉ cho điểm tối đa khi bài viết có kết cấu đoạn văn hoàn chỉnh; diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi ngữ pháp, dùng từ, chính tả; có thái độ chân thành, nghiêm túc khi bày tỏ ý kiến.


1,5


- Rút ra bài học nhận thức và rèn luyện thái độ sống đúng đắn. (Tùy từng học sinh mà có một ý kiến khác nhau nhưng vẫn phải phù hợp với ý nghĩa mà câu chuyện muốn hướng đến)










*Yêu cầu chung:

- Yêu cầu về kĩ năng:  Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận về một đoạn thơ; diễn đạt lưu loát, văn có xúc cảm tự nhiên, sâu sắc; đảm bảo quy định về dùng từ, đặt câu, chính tả.

-  Yêu cầu về kiến thức: Trên cơ sở kiến thức về nhà văn, về tác phẩm, thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cơ bản nêu được các ý sau:


               1,0

1

Mở bài: Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm và vị trí đoạn trích.

1,0

2

Thân bài: Học sinh có nhiều hướng phân tích khác nhau, nhưng cần

đáp ứng các ý sau đây:

* Nỗi nhớ thương da diết người chồng ở phương xa:

- Người chinh phụ nghĩ đến chồng mình đang xông pha nơi chiến trận ở phương xa, chợt nảy ra ý nghĩa: nhờ ngọn gió mùa xuân chuyển hộ tình cảm nhớ nhung của nàng tới chồng nơi biên ải xa xôi.

- Nhưng khoảng cách giữa nàng và chồng nàng là một không gian quá xa xôi cách trở, cho nên nỗi thương nhớ lại càng chồng chất trong lòng.

- Sự tương phản sâu sắc: trời thì quá xa, nỗi nhớ thương thì đau đáu, cho nên trời đâu có thấu. Các từ láy thăm thẳm, đau đáu diễn tả cám giác xót xa, cay đắng, ngầm ý oán trách.

- Hai câu lục bát cuối đoạn trích không còn là nỗi buồn vì nhớ nhung nưa mà là nỗi đau đang dâng trào lên trong lòng người chinh phụ. Ý thơ được gửi vào trong cảnh.

- Thiết tha ở đây có nghĩa là đau đớn, cảnh vật đã thấm đẫm cả nỗi buồn của người chinh phụ. Câu thơ gợi đến câu thơ nổi tiếng của Nguyễn Du trong Truyện Kiều:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.


3,0


3

Kết bài:

Nêu cảm nghĩ và mở rộng vấn đề.

1,0



ĐIỂM TOÀN BÀI THI I+II=10 ĐIỂM


------HẾT------


     SỞ GD-ĐT TP ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG

ĐỀ 3 KIỂM TRA HỌC KÌ II – NĂM HỌC 2018 -2019

MÔN: NGỮ VĂN – Khối 10

(Thời gian làm bài 120 phút)

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:   

          “Nguyễn Du sinh năm 1765 tại Thăng Long, tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên. Tổ tiên Nguyễn Du vốn từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội ) sau di cư vào xã Nghi Xuân,  huyện Tiên Điền ( nay là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh). Cha Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm sinh năm 1708 mất 1775 và mẹ là Trần Thị Tần 1740- 1778, quê Bắc Ninh.”

                                                                     (Theo sách Ngữ văn 10, tập hai, trang 92)

Câu 1. Đoạn trích được viết theo phương thức biểu đạt nào? (0,5 điểm)

Câu 2. Nêu nội dung chính của văn bản. (1,0 điểm)

Câu 3. Xác định lỗi trong câu sau và sửa lại cho đúng. (1.0 điểm)

  • Có được quyển sách hay đã làm cho Nam càng say mê đọc sách hơn.    

Câu 4.  Xác định biện pháp tu từ chính được sử dụng trong những câu thơ sau và nêu hiệu quả nghệ thuật của nó: (1,5 điểm)                 

Khắc giờ đằng đẵng như niên

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

                                                           (Chinh phụ ngâm – bản diễn Nôm Đoàn Thị Điểm)                                                                                                        II. PHẦN LÀM VĂN (6,0 điểm)

 Cảm nhận của anh/ chị về tài sử dụng ngôn ngữ và tấm lòng của Nguyễn Du qua  đoạn thơ trên. Từ vẻ đẹp ngôn ngữ trong đoạn trích, hãy trình bày suy nghĩ về ý thức  sử dụng tiếng nói dân tộc của lớp trẻ ngày nay.

                                    “ Cậy em, em có chịu lời,

                              Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

                                    Giữa đường đứt gánh tương tư,

                              Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

                                    Kể từ khi gặp chàng Kim,

                              Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.

                                    Sự đâu sóng gió bất kì,

                              Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

                                    Ngày xuân em hãy còn dài,

                              Xót tình máu mủ, thay lời nước non.

                                    Chị dù thịt nát xương mòn,

                              Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

                                    Chiếc vành với bức tờ mây,

                              Duyên này thì giữ, vật này của chung.”

                                      (Trích Trao duyên, theo Sách Ngữ văn 10, tập hai - NXB Giáo dục)  

– HẾT –



     SỞ GD-ĐT TP ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG

ĐỀ 3 KIỂM TRA HỌC KÌ II – NĂM HỌC 2018 -2019

MÔN: NGỮ VĂN – Khối 10

(Thời gian làm bài 120 phút)

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:   

          “Nguyễn Du sinh năm 1765 tại Thăng Long, tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên. Tổ tiên Nguyễn Du vốn từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội ) sau di cư vào xã Nghi Xuân,  huyện Tiên Điền ( nay là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh). Cha Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm sinh năm 1708 mất 1775 và mẹ là Trần Thị Tần 1740- 1778, quê Bắc Ninh.”

                                                                     (Theo sách Ngữ văn 10, tập hai, trang 92)

Câu 1. Đoạn trích được viết theo phương thức biểu đạt nào? (0,5 điểm)

Câu 2. Nêu nội dung chính của văn bản. (1,0 điểm)

Câu 3. Xác định lỗi trong câu sau và sửa lại cho đúng. (1.0 điểm)

  • Có được quyển sách hay đã làm cho Nam càng say mê đọc sách hơn.    

Câu 4.  Xác định biện pháp tu từ chính được sử dụng trong những câu thơ sau và nêu hiệu quả nghệ thuật của nó: (1,5 điểm)                 

Khắc giờ đằng đẵng như niên

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

                                                           (Chinh phụ ngâm – bản diễn Nôm Đoàn Thị Điểm)                                                                                                        II. PHẦN LÀM VĂN (6,0 điểm)

 Cảm nhận của anh/ chị về tài sử dụng ngôn ngữ và tấm lòng của Nguyễn Du qua  đoạn thơ trên. Từ vẻ đẹp ngôn ngữ trong đoạn trích, hãy trình bày suy nghĩ về ý thức  sử dụng tiếng nói dân tộc của lớp trẻ ngày nay.

                                    “ Cậy em, em có chịu lời,

                              Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

                                    Giữa đường đứt gánh tương tư,

                              Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

                                    Kể từ khi gặp chàng Kim,

                              Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.

                                    Sự đâu sóng gió bất kì,

                              Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

                                    Ngày xuân em hãy còn dài,

                              Xót tình máu mủ, thay lời nước non.

                                    Chị dù thịt nát xương mòn,

                              Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

                                    Chiếc vành với bức tờ mây,

                              Duyên này thì giữ, vật này của chung.”

                                      (Trích Trao duyên, theo Sách Ngữ văn 10, tập hai - NXB Giáo dục)  

– HẾT –











    














































    

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG

NĂM HỌC 2018-2019


ĐÁP ÁN THI HỌC KỲ II – KHỐI 10

MÔN : NGỮ VĂN

ĐÁP ÁN - THANG ĐIỂM

PHẦN ĐỌC HIỂU

Câu

Ý

Nội dung

Điểm



Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:“Nguyễn Du sinh năm 1765 tại Thăng Long …. quê Bắc Ninh.”


Câu 1


Đoạn trích được viết theo phương thức biểu đạt thuyết minh

0,5

Câu 2


Nội dung chính của văn bản: Đoạn trích viết về thân thế và quê quán nhà thơ Nguyễn Du.

1,0

Câu 3


Xác định lỗi trong câu sau và sửa lại cho đúng: “Có được quyển sách hay đã làm cho Nam càng say mê đọc sách hơn”.

1,0


Ý 1

- Câu sai về ngữ pháp (Hoặc: Lỗi trong câu là lỗi ngữ pháp)

0,5


Ý 2

Có thể chọn một trong các phương án sau:

  • Bỏ cụm từ: “đã làm cho” 🡪 Có được quyển sách hay, Nam càng say mê đọc sách hơn.

Hoặc bỏ cụm từ “Có được” 🡪  Quyển sách hay đã làm cho Nam càng say mê đọc sách hơn.

0,5

Câu 4


Xác định biện pháp tu từ chính được sử dụng trong những câu thơ sau và nêu hiệu quả nghệ thuật của nó: Khắc giờ đằng đẵng như niên/ Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

1,5


Ý 1

- Biện pháp tu từ chính được sử dụng là so sánh: “Khắc giờ” như niên / “Mối sầu”...tựa “miền biển xa”

0,75


Ý 2

- Hiệu quả nghệ thuât: Hình tượng thời gian và không gian dài rộng, kì vĩ (như niên/ tựa ...biển xa) đã cụ thể hóa nỗi nhớ nhung, sầu muộn của người chinh phụ: một khắc giờ trôi qua trong thương nhớ dài như cả năm chầy, nỗi sầu thì mênh mông như biển cả.

0,75

PHẦN LÀM VĂN



Cậy em, em có chịu lời... Duyên này thì giữ, vật này của chung.” Cảm nhận của anh/ chị về tài sử dụng ngôn ngữ và tấm lòng của Nguyễn Du qua  đoạn thơ trên. Từ vẻ đẹp ngôn ngữ trong đoạn trích, hãy trình bày suy nghĩ về ý thức  sử dụng tiếng nói dân tộc của lớp trẻ ngày nay

6,0

Ý 1

Nêu vấn đề

0,5

Ý 2

- Giới thiệu khái quát: tác giả - tác phẩm

0,5

Ý 3

* Về tài sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du

- Cách dùng từ ngữ tinh tế, sâu sắc, đắc địa  của Nguyễn Du qua lời trao duyên của Kiều với Vân (cậy – chịu lời – chắp mối tơ thừa – của chung...)

- Cách kết hợp ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ bác học thật nhuần nhị, tự nhiên (keo loan/ tương tư/ quạt ước/ chén thề/lời nước non– chắp mối/ sóng gió bất kì/ xót tình máu mủ/ ngậm cười chín suối/ thơm lây/ …)

🢡 Tài năng của một bậc thầy sử dụng ngôn ngữ = thể hiện tinh tế tâm lí nhân vật đầy mâu thuẫn, phức tạp.

1,5


Ý 4

  * Về tấm lòng của Nguyễn Du:     

- Sự cảm thông lạ lùng của nhà thơ đối với nỗi khổ và khát vọng hạnh phúc của con người qua miêu tả sâu sắc nỗi đau và bi kịch của nàng Kiều khi “trao duyên” cho em.

🢡 Cảm hứng nhân đạo – nhân văn sâu sắc.

1,0

Ý 5

Đánh giá

-Đoạn trích là minh chứng cho tài và tình của Nguyễn Du qua kiệt tác Truyện Kiều:

       + Nguyễn Du đã “hóa thạch” nỗi đau con người trong một cảnh ngộ đầy bi kịch bằng “con mắt nhìn thấu sáu cõi, bằng tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” ( Mộng Liên Đường chủ nhân)

      + Đoạn trích khẳng định một thi tài – Người đã đưa tiếng Việt lên đỉnh cao của ngôn ngữ văn học.

0,5

Ý 6

Từ vẻ đẹp ngôn ngữ trong đoạn trích, hãy trình bày suy nghĩ về ý thức sử dụng tiếng nói dân tộc của lớp trẻ ngày nay.

- Phải ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, làm cho tiếng Việt ngày càng giàu đẹp qua việc chú ý nói và viết tiếng Việt sao cho đúng và hay.

- Không nên lạm dụng tiếng nước ngoài theo kiểu “sính ngoại”, lai căng.

- Cần trau dồi năng lực sử dụng tiếng Việt qua học tập lời ăn tiếng nói của nhân dân, học cách sử dụng ngôn ngữ của các nhà văn, nhà thơ.

- Cần ý thức hơn khi sử dụng tiếng Việt trên mạng (facebook, internet...) ; v.v...

2,0.



* Đây chỉ là những gợi ý cho đề theo hướng mở, HS có thể đề xuất những ý kiến khác miễn sao lập luận thuyết phục.


Lưu ý:  - Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.

- Nếu thí sinh có những cảm nhận riêng mà thuyết phục thì vẫn chấp nhận.

-HẾT-









SỞ GD-ĐT TP ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG



ĐỀ 4 KIỂM TRA HỌC KỲ II, NĂM HỌC 2018-2019

MÔN: Ngữ văn – Lớp 10


Thời gian làm bài: 90 phút (Không kể thời gian phát đề)


I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:  

   Bị người khác bàn luận là chuyện khó tránh khỏi, chẳng khác gì việc chúng ta bàn luận về người khác vậy.[…] Nhiều khi chúng ta cảm thấy phiền muộn, không biết phải làm sao, chính là vì ta đã quá để tâm đến ý kiến của người khác. Có lúc người khác nói ta không làm được, ta liền thất vọng, chán nản mà bỏ cuộc. Nếu đó là quy luật tự nhiên thì thế giới này sao lại có được những phát minh như của Edison, càng không có tàu hỏa của Stephenson, cũng chẳng thể sản sinh ra những kì tích khiến bao người kinh ngạc được. Có thể thấy rằng những gì người khác nói không quan trọng, bất kể người ấy có ý tốt hay xấu, chúng ta cũng đều phải giữ vững mục tiêu của mình, chỉ có vậy mới đạt được thành công.  

(Từ hạt cát đến ngọc trai, NXB Thanh niên, 2016, trang 58-59)

Câu 1. Văn bản trên thuộc dạng nghị luận về một tư tưởng đạo lí hay nghị luận về một hiện tượng đời sống? (0.5 điểm)

Câu 2. Nêu nội dung chính của văn bản. (1,0 điểm)    

Câu 3. Trình bày ngắn gọn các luận cứ người viết sử dụng để làm sáng tỏ luận điểm. (1.0 điểm)  

Câu 4. Anh chị có đồng ý với quan điểm: Những gì người khác nói không quan trọng, bất kể người ấy có ý tốt hay xấu, chúng ta cũng đều phải giữ vững mục tiêu của mình, chỉ có vậy mới đạt được thành công? Vì sao? (1.5 điểm)  

II. PHẦN LÀM VĂN (6.0 điểm)

 Cảm nhận tâm trạng của nhân vật trong đoạn trích:

“Gà eo óc gáy sương năm trống,

Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.

Khắc giờ đằng đẵng như niên,

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

Hương gượng đốt hồn đà mê mải,

Gương gượng soi lệ lại châu chan.

Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,

Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”

(Trích Chinh phụ ngâm, nguyên tác: Đặng Trần Côn, bản diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm, SGK Ngữ văn 10 tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, trang 87)  

------HẾT------



SỞ GD-ĐT TP ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG


ĐÁP ÁN

HƯỚNG DẪN CHẤM HỌC KỲ II

NĂM HỌC 2018 – 2019

MÔN: Ngữ văn- lớp 10


(Hướng dẫn chấm có 02 trang)


PHẦN

CÂU

NỘI DUNG

ĐIỂM

I

































II

1

Văn bản trên thuộc dạng nghị luận về một tư tưởng đạo lí.

0,5

2

Nội dung chính của văn bản: Thành công không phụ thuộc vào ý kiến của người khác mà nhờ chính vào sự nỗ lực của bản thân mỗi người.

1,0

3

Luận cứ người viết sử dụng để làm sáng tỏ luận điểm:

- Lí lẽ: Bị người khác bàn luận là chuyện khó tránh khỏi; không nên thất vọng, chán nản mà bỏ cuộc; phải giữ vững mục tiêu của mình.

- Dẫn chứng: thành công của Edison, Stephenson.


1,0

4

Những gì người khác nói không quan trọng, bất kể người ấy có ý tốt hay xấu, chúng ta cũng đều phải giữ vững mục tiêu của mình, chỉ có vậy mới đạt được thành công.  

- Thí sinh có thể đồng ý, hoặc có ý kiến bổ sung: cần giữ vững mục tiêu của mình, nhưng cũng phải biết lắng nghe, tiếp thu những góp ý tích cực, có tính xây dựng từ người khác.

- Thí sinh đưa ra lí giải cho ý kiến lựa chọn, cần ngắn gọn, hợp lí, thuyết phục, giáo viên linh hoạt trong đánh giá.



1,5









a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận   

Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:  

Tâm trạng của nhân vật người chinh phụ trong đoạn trích: “Gà eo óc…phím loan ngại chùng” thuộc tác phẩm Chinh phụ ngâm, nguyên tác Đặng Trần Côn, bản diễn Nôm Đoàn Thị Điểm.

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

- Giới thiệu tác giả Đặng Trần Côn, dịch giả Đoàn Thị Điểm, tác phẩm Chinh phụ ngâm, tâm trạng nhân vật trong đoạn trích, trích thơ.  

- Hoàn cảnh sáng tác: đầu đời Lê Hiển Tông, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long. Triều đình cất quân đánh dẹp, nhiều trai tráng phải từ giã người thân ra trận. Đặng Trần Côn cảm động trước nỗi khổ đau mất mát của con người, nhất là những người vợ lính trong chiến tranh, đã viết Chinh phụ ngâm.

- Vị trí đoạn thơ: phần giữa tác phẩm, viết về nỗi cô đơn, sầu muộn của người chinh phụ.

- Phân tích:  

+ Không gian mênh mông, thời gian dài dặc khắc họa sự cô đơn, chờ đợi mỏi mòn, tâm trạng sầu muộn của nhân vật: tiếng gà, bóng hòe; Khắc giờ đằng đẵng như niên/ Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.  

+ Người chinh phụ gắng gượng tìm cách thoát khỏi sự cô đơn nhưng bất lực, càng bế tắc, tuyệt vọng.  

- Đánh giá:

 + Nghệ thuật: thể thơ song thất lục bát, miêu tả nội tâm nhân vật qua cử chỉ, hành động; tả cảnh ngụ tình; biện pháp tu từ: điệp từ, so sánh.  

+ Tâm trạng cô quạnh, buồn tủi, niềm khao khát hạnh phúc của người chinh phụ.

+ Tấm lòng nhân đạo của tác giả.  

d. Sáng tạo: Ý mới mẻ, sâu sắc

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu



0,5



1,0




4,0





















  

   0,5


ĐIỂM TOÀN BÀI THI I+II=10 ĐIỂM

------HẾT------









    














































    

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG

NĂM HỌC 2018-2019


ĐÁP ÁN THI HỌC KỲ II – KHỐI 10

MÔN : NGỮ VĂN

ĐÁP ÁN - THANG ĐIỂM

PHẦN ĐỌC HIỂU

Câu

Ý

Nội dung

Điểm



Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:“Nguyễn Du sinh năm 1765 tại Thăng Long …. quê Bắc Ninh.”


Câu 1


Đoạn trích được viết theo phương thức biểu đạt thuyết minh

0,5

Câu 2


Nội dung chính của văn bản: Đoạn trích viết về thân thế và quê quán nhà thơ Nguyễn Du.

1,0

Câu 3


Xác định lỗi trong câu sau và sửa lại cho đúng: “Có được quyển sách hay đã làm cho Nam càng say mê đọc sách hơn”.

1,0


Ý 1

- Câu sai về ngữ pháp (Hoặc: Lỗi trong câu là lỗi ngữ pháp)

0,5


Ý 2

Có thể chọn một trong các phương án sau:

  • Bỏ cụm từ: “đã làm cho” 🡪 Có được quyển sách hay, Nam càng say mê đọc sách hơn.

Hoặc bỏ cụm từ “Có được” 🡪  Quyển sách hay đã làm cho Nam càng say mê đọc sách hơn.

0,5

Câu 4


Xác định biện pháp tu từ chính được sử dụng trong những câu thơ sau và nêu hiệu quả nghệ thuật của nó: Khắc giờ đằng đẵng như niên/ Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

1,5


Ý 1

- Biện pháp tu từ chính được sử dụng là so sánh: “Khắc giờ” như niên / “Mối sầu”...tựa “miền biển xa”

0,75


Ý 2

- Hiệu quả nghệ thuât: Hình tượng thời gian và không gian dài rộng, kì vĩ (như niên/ tựa ...biển xa) đã cụ thể hóa nỗi nhớ nhung, sầu muộn của người chinh phụ: một khắc giờ trôi qua trong thương nhớ dài như cả năm chầy, nỗi sầu thì mênh mông như biển cả.

0,75

PHẦN LÀM VĂN



Cậy em, em có chịu lời... Duyên này thì giữ, vật này của chung.” Cảm nhận của anh/ chị về tài sử dụng ngôn ngữ và tấm lòng của Nguyễn Du qua  đoạn thơ trên. Từ vẻ đẹp ngôn ngữ trong đoạn trích, hãy trình bày suy nghĩ về ý thức  sử dụng tiếng nói dân tộc của lớp trẻ ngày nay

6,0

Ý 1

Nêu vấn đề

0,5

Ý 2

- Giới thiệu khái quát: tác giả - tác phẩm

0,5

Ý 3

* Về tài sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du

- Cách dùng từ ngữ tinh tế, sâu sắc, đắc địa  của Nguyễn Du qua lời trao duyên của Kiều với Vân (cậy – chịu lời – chắp mối tơ thừa – của chung...)

- Cách kết hợp ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ bác học thật nhuần nhị, tự nhiên (keo loan/ tương tư/ quạt ước/ chén thề/lời nước non– chắp mối/ sóng gió bất kì/ xót tình máu mủ/ ngậm cười chín suối/ thơm lây/ …)

🢡 Tài năng của một bậc thầy sử dụng ngôn ngữ = thể hiện tinh tế tâm lí nhân vật đầy mâu thuẫn, phức tạp.

1,5


Ý 4

  * Về tấm lòng của Nguyễn Du:     

- Sự cảm thông lạ lùng của nhà thơ đối với nỗi khổ và khát vọng hạnh phúc của con người qua miêu tả sâu sắc nỗi đau và bi kịch của nàng Kiều khi “trao duyên” cho em.

🢡 Cảm hứng nhân đạo – nhân văn sâu sắc.

1,0

Ý 5

Đánh giá

-Đoạn trích là minh chứng cho tài và tình của Nguyễn Du qua kiệt tác Truyện Kiều:

       + Nguyễn Du đã “hóa thạch” nỗi đau con người trong một cảnh ngộ đầy bi kịch bằng “con mắt nhìn thấu sáu cõi, bằng tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” ( Mộng Liên Đường chủ nhân)

      + Đoạn trích khẳng định một thi tài – Người đã đưa tiếng Việt lên đỉnh cao của ngôn ngữ văn học.

0,5

Ý 6

Từ vẻ đẹp ngôn ngữ trong đoạn trích, hãy trình bày suy nghĩ về ý thức sử dụng tiếng nói dân tộc của lớp trẻ ngày nay.

- Phải ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, làm cho tiếng Việt ngày càng giàu đẹp qua việc chú ý nói và viết tiếng Việt sao cho đúng và hay.

- Không nên lạm dụng tiếng nước ngoài theo kiểu “sính ngoại”, lai căng.

- Cần trau dồi năng lực sử dụng tiếng Việt qua học tập lời ăn tiếng nói của nhân dân, học cách sử dụng ngôn ngữ của các nhà văn, nhà thơ.

- Cần ý thức hơn khi sử dụng tiếng Việt trên mạng (facebook, internet...) ; v.v...

2,0.



* Đây chỉ là những gợi ý cho đề theo hướng mở, HS có thể đề xuất những ý kiến khác miễn sao lập luận thuyết phục.


Lưu ý:  - Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.

- Nếu thí sinh có những cảm nhận riêng mà thuyết phục thì vẫn chấp nhận.

-HẾT-






   :: Các tin khác

 
Điện thoại : 0511.3691445 - 0511.3656697 * Email: quangtrung.thpt@yahoo.com
* - Website: thptquangtrung.vn * Website : thpt-quangtrung-danang.edu.vn