Ngày 28-11-2020 14:56:15
 


Mọi chi tiết xin liên hệ với trường chúng tôi theo mẫu dưới :
Họ tên
Nội dung
 

Lượt truy cập : 5321908
Số người online: 18
 
 
 
 
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KIỂM TRA HK II MÔN NGỮ VĂN LỚP 10,11 và12
 
Lớp 12, lớp 11 và lớp 10

                      ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN LỚP 12 HKII NH 2019-2020.

VỢ CHỒNG A PHỦ

(Tô Hoài)

I. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

Tô Hoài (1920 – 2014) là nhà văn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Ông là nhà văn có vốn hiểu biết phong phú về phong tục tập quán nhiều vùng miền của nước ta. Tô Hoài có lối văn kể chuyện tự nhiên, sinh động, ngôn ngữ tài ba. Truyện ngắn “VCAP” là tác phẩm tiêu biểu, được in trong tập “Truyện Tây Bắc”. Tác phẩm phản ánh cuộc sống tăm tối tủi nhục của người dân nghèo trước ách áp bức của bọn cường hào và sức sống mãnh liệt tiềm tàng nơi họ.

II. TÌM HIỂU NHÂN VẬT MỊ

1. Cách giới thiệu nhân vật Mị  của tác giả rất độc đáo:

- Ngay từ những dòng đầu tiên, tác giả tả Mị ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa… “Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nưóc dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi’

- Mị xuất hiện không phải ở phía chân dung ngoại hình mà ở phía thân phận- một thân phận quá nghiệt ngã- một con người bị xếp lẫn với những vật vô tri giác : tảng đá, tàu ngựa… trong khung cảnh đông đúc tấp nập của gia đình nhà thống lí Pá tra

- NT đối cho thấy con dâu trong một gia đình quyền thế, giàu có nhưng lúc nào cũng cúi mặt, buồn rười rượi.

-> Đây chính là thủ pháp tạo tình huống trong lối kể chuyện truyền thống thôi thúc người đọc tìm hiểu bí ẩn số phận nhân vật.

2.Trước khi về làm dâu:

- Mị xinh đẹp, hiếu thảo, siêng năng cần cù, thổi sáo hay, có nhiều người thồi sáo đi theo Mị, trai đến đứng nhẵn vách đầu buồng Mị. Mị đã yêu và được yêu.

- Mị có cảnh ngộ éo le: cha Mị thiếu nợ nhà thống lí nên Mị phải làm con dâu để trừ nợ.

- Mị đã nghĩ cách cứu mình, Mị van cha: “Con nay  đã biết cuốc nương làm ngô. Con phải làm nương để giả nợ thay bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”-> Sự thông minh và hiếu thảo của Mị không thắng được hoàn cảnh và mưu chước thâm độc của cha con nhà thống lí. Mị bị bắt về làm dâu nhà Thống lí .

3.Khi về làm dâu:

a. Mị  bị đày đoạ về thể xác lẫn tinh thần

- Mị phải sống với kẻ mà mình không yêu, bị tròng hai thứ dây trói: làm con nợ và làm con dâu. Con nợ bình thường còn hi vọng thoát ra khi đã trả hết nợ nhưng làm con dâu thì Mị phải kéo lê thân phận khốn khổ của mình đến tàn đời.Ban đầu, Mị rất buồn đau “Đêm nào Mị cũng khóc”. Mị định ăn lá ngón tự tử. Chính khát vọng được sống một cuộc sống đúng nghĩa   khiến Mị không muốn chấp nhận cuộc sống bị chà đạp, lầm than, tủi cực, bị đối xử bất công như một con vật. Mị về lạy cha. Nhưng rồi thương cha, Mị đành nén nỗi đau buồn riêng và quay trở lại nhà thống lí. Mị sống âm thầm lặng lẽ với cuộc sống đầy tủi nhục."Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa"

- Mị bị biến thành một thứ công cụ lao động. Mị phải làm việc quần quật như một nô lệ  “Con trâu, con ngựa còn có lúc đêm nó được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ. Đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả ngày cả đêm” 

   + Mị không nói, chỉ "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa". Mị bị cầm tù trong ngục thất tinh thần, nơi lui vào lui ra chỉ là "một căn buồng kín mít chỉ có một chiếc cửa sổ, một lỗ vuông bằng bàn tay" . Đã bao năm rồi, Mị chẳng biết đến mùa xuân, chẳng đi chơi tết…

 b. Mị sống mà như đã chết:

       Tác giả cắt nghĩa: "Sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi" Mị bị đày đọa đến mức tê liệt tinh thần. Mị buông xuôi phó mặc cho hoàn cảnh.  Mị không còn ý thức được về thời gian, tuổi tác và cuộc sống. Mị sống như một cỗ máy, một thói quen vô thức. Mị vô cảm, không tình yêu, không khát vọng, thậm chí không còn biết đến khổ đau.Cô sống trong tuyệt vọng. Sống mà như chết. Điều đó có sức ám ảnh đối với độc giả, gieo vào lòng người những xót thương.

 -> Bằng NT miêu tả tâm lí tài tình, giọng văn ngậm ngùi, nhà văn diễn tả khá cụ thể nỗi khổ của Mị và sự bóc lột dã man của giai cấp thống trị miền núi.

 II. Khi mùa xuân về Hồng Ngài: Sức sống tiềm tàng trong Mị bỗng hồi sinh

1. Cảnh mùa xuân được nhà văn miêu tả tràn đầy sức sống. Không khí tưng bừng rộn rã của trai làng đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi kèn. Màu sắc rực rỡ của những chiếc váy hoa đem ra phơi xòe trên mỏm đá. Âm thanh réo rắt mời gọi bạn tình thiết tha bồi hồi lơ lửng trong không gian. 

-> Ngôn từ giản dị, mộc mạc, đậm chất dân tộc. Cuộc sống tự do, phóng khoáng và cảnh mùa xuân tươi vui nhộn nhịp  đã tác động  vào tâm hồn Mị làm trỗi dậy trong cô lòng ham sống và khát vọng hạnh phúc .

1. Cách giới thiệu nhân vật Mị  của tác giả rất độc đáo:

- Ngay từ những dòng đầu tiên, tác giả tả Mị ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa… “Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nưóc dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi’

- Mị xuất hiện không phải ở phía chân dung ngoại hình mà ở phía thân phận- một thân phận quá nghiệt ngã- một con người bị xếp lẫn với những vật vô tri giác : tảng đá, tàu ngựa… trong khung cảnh đông đúc tấp nập của gia đình nhà thống lí Pá tra

- NT đối cho thấy con dâu trong một gia đình quyền thế, giàu có nhưng lúc nào cũng cúi mặt, buồn rười rượi.

-> Đây chính là thủ pháp tạo tình huống trong lối kể chuyện truyền thống thôi thúc người đọc tìm hiểu bí ẩn số phận nhân vật.

2.Trước khi về làm dâu:

- Mị xinh đẹp, hiếu thảo, siêng năng cần cù, thổi sáo hay, có nhiều người thồi sáo đi theo Mị, trai đến đứng nhẵn vách đầu buồng Mị. Mị đã yêu và được yêu.

- Mị có cảnh ngộ éo le: cha Mị thiếu nợ nhà thống lí nên Mị phải làm con dâu để trừ nợ.

- Mị đã nghĩ cách cứu mình, Mị van cha: “Con nay  đã biết cuốc nương làm ngô. Con phải làm nương để giả nợ thay bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”-> Sự thông minh và hiếu thảo của Mị không thắng được hoàn cảnh và mưu chước thâm độc của cha con nhà thống lí. Mị bị bắt về làm dâu nhà Thống lí .

3.Khi về làm dâu:

a. Mị  bị đày đoạ về thể xác lẫn tinh thần

- Mị phải sống với kẻ mà mình không yêu, bị tròng hai thứ dây trói: làm con nợ và làm con dâu. Con nợ bình thường còn hi vọng thoát ra khi đã trả hết nợ nhưng làm con dâu thì Mị phải kéo lê thân phận khốn khổ của mình đến tàn đời.Ban đầu, Mị rất buồn đau “Đêm nào Mị cũng khóc”. Mị định ăn lá ngón tự tử. Chính khát vọng được sống một cuộc sống đúng nghĩa   khiến Mị không muốn chấp nhận cuộc sống bị chà đạp, lầm than, tủi cực, bị đối xử bất công như một con vật. Mị về lạy cha. Nhưng rồi thương cha, Mị đành nén nỗi đau buồn riêng và quay trở lại nhà thống lí. Mị sống âm thầm lặng lẽ với cuộc sống đầy tủi nhục."Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa"

- Mị bị biến thành một thứ công cụ lao động. Mị phải làm việc quần quật như một nô lệ  “Con trâu, con ngựa còn có lúc đêm nó được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ. Đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả ngày cả đêm” 

   + Mị không nói, chỉ "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa". Mị bị cầm tù trong ngục thất tinh thần, nơi lui vào lui ra chỉ là "một căn buồng kín mít chỉ có một chiếc cửa sổ, một lỗ vuông bằng bàn tay" . Đã bao năm rồi, Mị chẳng biết đến mùa xuân, chẳng đi chơi tết…

 b. Mị sống mà như đã chết:

       Tác giả cắt nghĩa: "Sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi" Mị bị đày đọa đến mức tê liệt tinh thần. Mị buông xuôi phó mặc cho hoàn cảnh.  Mị không còn ý thức được về thời gian, tuổi tác và cuộc sống. Mị sống như một cỗ máy, một thói quen vô thức. Mị vô cảm, không tình yêu, không khát vọng, thậm chí không còn biết đến khổ đau.Cô sống trong tuyệt vọng. Sống mà như chết. Điều đó có sức ám ảnh đối với độc giả, gieo vào lòng người những xót thương.

 -> Bằng NT miêu tả tâm lí tài tình, giọng văn ngậm ngùi, nhà văn diễn tả khá cụ thể nỗi khổ của Mị và sự bóc lột dã man của giai cấp thống trị miền núi.

 II. Khi mùa xuân về Hồng Ngài: Sức sống tiềm tàng trong Mị bỗng hồi sinh

1. Cảnh mùa xuân được nhà văn miêu tả tràn đầy sức sống. Không khí tưng bừng rộn rã của trai làng đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi kèn. Màu sắc rực rỡ của những chiếc váy hoa đem ra phơi xòe trên mỏm đá. Âm thanh réo rắt mời gọi bạn tình thiết tha bồi hồi lơ lửng trong không gian. 

-> Ngôn từ giản dị, mộc mạc, đậm chất dân tộc. Cuộc sống tự do, phóng khoáng và cảnh mùa xuân tươi vui nhộn nhịp  đã tác động  vào tâm hồn Mị làm trỗi dậy trong cô lòng ham sống và khát vọng hạnh phúc .

2. Trong đêm tình mùa xuân năm đó, tâm trạng và hành động của Mị cũng có nhiều thay đổi

Mị uống rượu: Rượu là chất xúc tác trực tiếp để tâm hồn yêu đời, khát sống của Mị trỗi dậy. "Mị lén lấy hũ rượu và uống  ực từng bát một". Mị vừa như uống cho hả giận vừa như uống hận, nuốt hận. Hơi men đã dìu tâm hồn Mị theo tiếng sáo.

Mị nghe tiếng sáo gọi bạn yêu lơ lửng bay:  "Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha, bổi hổi. Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi".-> Tô Hoài đã miêu tả tiếng sáo như một dụng ý nghệ thuật để lay tỉnh tâm hồn Mị. Tiếng sáo là biểu tượng của khát vọng tình yêu tự do, đã theo sát diễn biến tâm trạng Mị, là ngọn gió thổi bùng lên đốn lửa tưởng đã nguội tắt. Thoạt tiên, tiếng sáo còn "lấp ló", "lửng lơ" đầu núi, ngoài đường. Sau đó, tiếng sáo đã thâm nhập vào thế giới nội tâm của Mị và cuối cùng tiếng sáo trở thành lời mời gọi tha thiết để rồi tâm hồn Mị bay theo tiếng sáo.

- Mị nhớ lại quá khứ,  đó là dấu hiệu đầu tiên của việc sống lại . Mị nhớ về hạnh phúc ngắn ngủi trong cuộc đời tuổi trẻ của mình “Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. thổi lá cũng hay như thổi sáo”. Và niềm ham sống trở lại "Mị thấy phơi phới trở lại, trong  lòng đột nhiên vui sướng” Mị nhận  thấy rằng : "Mị còn trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ lắm. Mị muốn đi chơi". Tâm hồn Mị thực sự được hồi sinh.

- Thế nhưng, hiện thực đen tối đối lập với quá khứ tươi đẹp. Mơ ước về hạnh phúc khó trở thành sự thực.  Cuộc sống bị đày đoạ về thể xác lẫn tinh thần vẫn hằng ngày  vẫn đeo bám Mị. Bốn bức tường chật chội, tăm tối của  “căn buồng kín mít chỉ có một chiếc cửa sổ, một lỗ vuông bằng bàn tay” vẫn ám ảnh Mị. Nhũng trận đòn dã man của A Sử vẫn đang chực chờ Mị.

- Mị lại muốn chết  "nếu có nắm lá ngón trong tay Mị sẽ ăn cho chết". Mị đã ý thức được tình cảnh đau xót của mình. Những giọt nước mắt tưởng đã cạn kiệt vì đau khổ đã lại có thể lăn dài.

- Từ những sôi sục trong nội tâm  đã dẫn Mị tới hành động.  Mị "lấy ống mỡ sắn một miếng bỏ thêm vào đĩa dầu". Mị muốn thắp lên ánh sáng cho căn phòng bấy lâu chỉ là bóng tối. Mị muốn thắp lên ánh sáng cho cuộc đời tăm tối của mình. Hành động này đẩy tới hành động tiếp:  Mị chuẩn bị đi chơi. Mị "quấn tóc lại, với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách". Mị muốn thoát khỏi hiện thực đen tối của đời mình. Nhưng thật nghiệt ngã. Đến lúc sự hồi sinh lên đến cao trào thì A Sử về.  A Sử tàn nhẫn không cho Mị đi chơi. A Sử lấy dây thắt lưng và một thúng dây mây trói Mị vào góc nhà. Thế là hết. Sự hồi sinh trong tâm hồn Mị đã bị  chặn đứt.

- Dù bị A Sử trói đứng vào góc nhà, Mị quên hẳn sự có mặt của A Sử, quên hẳn mình đang bị trói, tiếng sáo vẫn dìu tâm hồn Mị "đi theo những cuộc chơi, những đám chơi". A Sử chỉ có thể trói buộc thể xác của Mị chứ không thể trói buộc tâm hồn Mị.

=> Tô Hoài đã đặt sự hồi sinh của Mị vào tình huống bi kịch: khát vọng mãnh liệt và hiện thực phũ phàng khiến cho sức sống ở Mị càng thêm  dữ dội. Qua đây, nhà văn muốn phát biểu một tư tưởng: sức sống của con người cho dù bị giẫm đạp, bị trói chặt vẫn không thể chết mà luôn luôn âm ỉ, chỉ gặp dịp là bùng lên.

 

III..Diễn biến tâm trạng  Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ:

Một trong những thành công của Tô Hoài là tác giả đã khắc họa tâm trạng nhân vật Mị một cách sâu sắc và tài tình. Trong đoạn Mị cởi trói cho A Phủ, Tô Hoài đã phát hiện và miêu tả thành công quá trình phát triển tâm lí phức tạp nhưng lôgic của nhân vật.

- A Phủ có hoàn cảnh thật đáng thương: mồ côi từ nhỏ, bị bán đổi lấy thóc nhưng anh trốn đi, rồi làm thuê. Anh là người có sức lực, lao động giỏi, tính tình phóng khoáng, yêu tự do, có tinh thần phản kháng cao. Thấy A Sử phá rối cuộc chơi của đám thanh niên, anh đã đánh A Sử. Anh bị phạt vạ và làm nô lệ để trừ nợ. Một lần, anh để mất một con bò, A Phủ bị trói đứng giống Mị ngày trước.

+  Mùa đông ở Hồng Ngài rất lạnh. “Đêm nào Mị cũng dậy thổi lửa hơ tay”. Trước cảnh A Phủ bị trói, ban đầu Mị hoàn toàn vô cảm: "Mị vẫn thản nhiên thổi lửa huơ ta".  Thậm chí “A Phủ là cái xác chết đứng đấy cũng thế thôi” bởi vì cảnh trói người ở nhà này đã diễn ra thường xuyên và đã quá quen thuộc với Mị. Sống trong cái khổ lâu ngày, tâm hồn Mị đã câm lặng, chai lì và vô cảm.. Bởi vì Mị sống mà như đã chết. Không có gì còn có ý nghĩa với Mị lúc này.

+ Thế rồi, trong đêm sau, lúc thức dậy thổi lửa , Mị bỗng nhìn thấy “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hỏm má đã xám đen lại”  của A Phủ. Trái tim đầy thương tích của Mị đã hồi sinh. Giọt nước mắt tuyệt vọng của A Phủ đã giúp Mị nhớ lại mình cũng đã bị trói đứng thế kia .Thương người đồng cảnh ngộ và thương mình, đồng thời Mị nhận ra  sự tàn ác dã man của nhà Thống lí “Chúng nó thật độc ác”. Mị tự nhủ: “Chỉ đêm mai là người kia chết. Người kia việc gì mà phải chết”. Mị thấy được sự đáng thương tội nghiệp của người đồng cảnh. Mị xót xa thương cảm.  Tất cả đã khiến cho hành động của Mị mang tính tất yếu.

+ Chứng kiến tình cảnh bi thảm của A Phủ, tình thương trong Mị lớn dần, không thể nhìn A Phủ chết . Mị bắt đầu hành động. “Mị rón rén bước lại, Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây…Mị chỉ thì thào được một tiếng: Đi ngay…rồi nghẹn lại”-> Những từ láy “rón rén, thì thào” cho thấy Mị hành động trong nỗi sợ hãi tột cùng.  Trong Mị có sự đối lập giữa sợ hãi và tình thương vì bọn thống lí như cái bóng ma đã từ lâu luôn  ám ảnh Mị, gieo rắc xuống cuộc đời Mị biết bao đau khổ. Nhưng tình thương yêu con người mạnh hơn nỗi sợ hãi đã thúc đẩy Mị. Mị cởi trói cho A Phủ.

+ Khi A Phủ chạy đi, Mị đứng lặng trong bóng tối”. Cái “đứng lặng” này là một khoảnh khắc đắn đo, trăn trở của Mị. Nó có tính chất vô cùng quan trọng. Đây là giây phút ngắn ngủi để Mị quyết định cho cuộc đời mìnhThật bất ngờ, sau đó “Mị cũng vụt chạy ra”…Trước sự sống và cái chết, Mị đã vì sự sống mà chạy theo A Phủ vì Mị ý thức rằng “ở đây thì chết mất”. Hành động này là kết quả tất yếu của sức sống tiềm tàng của Mị, đúng dịp là nó bùng lên quyết liệt. Cứu A Phủ có nghĩa là Mị tự giải phóng cho mình.  Hành động này đã góp phần dẫn Mị và A Phủ đến với cách mạng ở Phiềng Sa.

=> Khi sức sống tiềm tàng trong nhân vật được hồi sinh, nó sẽ là ngọn lửa không thể dập tắt. Nó chuyển thành hành động phản kháng táo bạo ở những nạn nhân của giai cấp thống trị, đứng lên chống lại cường quyền áp bức, chống lại sự chà đạp để cứu lấy cuộc đời mình.

*** SƠ KẾT :

- Tô Hoài đã thành công ở NT tả cảnh đậm đà màu sắc dân tộc miền núi độc đáo: tả cảnh thiên nhiên, cảnh sinh hoạt của con người lao động.

- Tô Hoài là người rất am hiểu về con người và cuộc sống Tây Bắc kể cả những phong tục tập quán.

- Ông xây dựng nhân vật Mị mang tính cách người Mông: âm thầm mà mãnh liệt, mộc mạc đơn sơ mà hết sức dữ dội. Đây là một điển hình cho người dân bị áp bức nhưng có sức sống mãnh liệt, biết tự giải thoát khỏi những áp bức bất công

- Ngôn ngữ truyện gần gũi, mộc mạc, tinh tế,  đậm đà màu sắc miền núi

- Nhiều chi tiết truyện hấp dẫn

- Cách kể chuyện lôi cuốn, hấp dẫn

- Cốt truyện giàu kịch tính, gây ấn tượng mạnh cho người đọc.

- Qua việc phân tích, ta thấy diễn biến tâm trạng Mị tưởng như đối lập nhưng lại thống nhất, phù hợp với qui luật phát triển tâm lí của con người.

-        Nhà văn đã dụng công miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật Mị. Qua đó để thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc, lớn lao.

IV. Tìm hiểu nhân vật A Phủ

- A Phủ được tác giả giới thiệu một cách đột ngột, tự nhiên. Lúc Mị đang bị trói đứng ở cột nhà thì bỗng “Nghe như họ khiêng theo một con lợn hoặc một người phải trói vừa vất huỵch xuống đất cứ thở phè phè”

- A Phủ có hoàn cảnh thật đáng thương: Cha mẹ chết cả trong trận dịch đậu mùa. A Phủ  mồ côi từ nhỏ, bị bán đổi lấy thóc nhưng anh trốn lên Hồng Ngài. Rồi anh  làm thuê cho nhà người . Anh là người có sức lực, lao động giỏi “ A Phủ khỏe mạnh, chạy nhanh như con ngựa, con gái trong làng nhiều người mê, nhiều người nói “Đứa nào được A Phủ cũng bằng có con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy chốc mà giàu”.

- Anh là người có tính tình phóng khoáng, yêu tự do, có tinh thần phản kháng cao. Thấy A Sử phá rối cuộc chơi của đám thanh niên, anh đã đánh A Sử. Anh bị phạt vạ và làm nô lệ cho nhà thống lí Pá tra để trừ nợ. Anh bị đánh đập tàn nhẫn “mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt chảy máu…” “A Phủ quì chịu đòn, chỉ im lặng như tảng đá…Cứ như thế suốt chiều, suốt đêm”-> Anh là nạn nhân của giai cấp phong kiến miền núi

- A Phủ bị xử phạt thật bất công và vô lí. Sau khi đánh đập anh tàn nhẫn, thống lí Pá tra tuyên bố anh phải chịu phạt 100 bạc trắng. Chưa có tiền thì “tao bắt mày ở làm con trâu, con ngưa cho nhà tao. Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế”-> Giai cấp thống trị miền núi thật độc ác và bất công.

   - A Phủ còn bị cha con thống lí bóc lột sức laođộng và đối xử tàn bạo. Anh phải lao động cực khổ “ở lều hàng tháng ngòai nương”  để chăn bò chăn ngựa. Một lần, anh để hổ ăn thịt mất một con bò. Anh  bị nhà Pá tra trói đứng  vào cột nhà suốt mấy ngày và sắp chết.

- Khi được Mị cắt dây trói, dù đã kiệt sức nhưng anh vẫn vùng chạy và mang theo cả Mị.-> Là người mạnh mẽ và gan góc, yêu cuộc sống tự do, A Phủ đã đứng lên phản kháng lại sự áp bức đày đọa của bọn thực dân chúa đất để đi tìm cuộc sống tự do.

=> A Phủ là một thanh niên lao động nghèo nhưng có bản chất tốt đẹp, có tinh thần phản kháng mạnh mẽ trước cái xấu. Đó là điều kiện thuận lợi để sau này A Phủ đến với Cách mạng.

V. Giá trị nội dung tư tưởng tác phẩm

a) Giá trị hiện thực

- Bức tranh đsống xã hội của dân tộc miền núi Tây Bắc là một thành công  của Tô Hoài ở đề tài miền núi.

- Bộ mặt của chế độ phong kiến miền núi: khắc nghiệt, tàn ác với những cảnh tượng hãi hùng như địa ngục giữa trần gian.

- Phơi bày tội ác của bọn thực dân Pháp.

- Những trang viết chân thực về cuộc sống bi thảm của người dân miền núi.

b) Giá trị nhân đạo:

- Cảm thông sâu sắc đối với người dân.

- Phê phán gay gắt bọn thống trị

- Ngợi ca những gì tốt đẹp ở con người.

- Trân trọng, đề cao những khát vọng chính đáng của con người.

- Chỉ ra con đường giải phóng người lao động có cuộc đời tăm tối và số phận thê thảm.

 VI. Tìm hiểu những nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm

a) Nghệ thuật xây dựng nhân vật, miêu tả tâm lí: nhân vật sinh động, có cá tính đậm nét (với Mị, tác giả ít miêu tả hành động, dùng thủ pháp lặp lại có chủ ý một số nét chân dung gây ấn tượng sâu đậm, đặc biệt tác giả miêu tả dòng ý nghĩ, tâm tư, nhiều khi là tiềm thức chập chờn,… với A Phủ, tác giả chủ yếu khắc họa qua hành động, công việc, những đối thoại giản đơn)

b) Nghệ thuật miêu tả phong tục tập quán của Tô Hoài rất đặc sắc với những nét riêng (cảnh xử kiện, không khí lễ hội mùa xuân, những trò chơi dân gian, tục cướp vợ, cảnh cắt máu ăn thề,…

c) Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên miền núi với những chi tiết, hình ảnh thấm đượm chất thơ.

d) Nghệ thuật kể chuyện tự nhiên, sinh động, hấp dẫn.

e) Ngôn ngữ tinh tế mang đậm màu sắc miền núi..        


 

VỢ NHẶT

Kim Lân

I.TÌM HIỂU CHUNG:

- Kim Lân là nhà văn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Sở trường của ông là truyện ngắn.

-  Ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lý của những người dân nghèo cho nên viết rất chân thật về cuộc sống nghèo khổ thiếu thốn mà yêu đời, thật thà, chất phác của con người Việt Nam.

- Văn KL có ngôn ngữ mộc mạc, gần với đời thường nhưng gợi hình, gợi cảm và giàu sức lôi cuốn.

- “Vợ nhặt” được viết sau Cách mạng tháng Tám,  in trong tập “Con chó xấu xí”

- Tác phẩ tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật, thể hiện  bản chất tốt đẹp và sức sống kỳ diệu của người Việt Nam: ngay trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và yêu thương đùm bọc lẫn nhau, cùng hướng về tương lai tươi sáng.

- (Luận đề…)

II.ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

A.TÌNH HUỐNG TRUYỆN:

          Độc đáo được bộc lộ ngay trong nhan đề “Vợ nhặt”. Nhân vật Tràng nhà nghèo, xấu trai, là dân ngụ cư. Trong hoàn cảnh đói kém anh lại lấy được vợ một cách dễ dàng, chỉ cần có mấy lời tầm phào và vài bát bánh đúc. Đó là một tình huống éo le và thấm đẫm tình người làm mọi người ngạc nhiên và ái ngại. Cái giá của một con người thật rẻ rúng  càng làm tăng giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.

B.GIÁ TRỊ HIỆN THỰC (BỐI CẢNH ANH TRÀNG NHẶT ĐƯỢC VỢ)

_ Tác phẩm “Vợ Nhặt” đã phản ánh chân thật nạn đói khủng khiếp năm 1945 do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra, khiến hơn hai triệu đồng bào ta bị chết. Thảm họa đó được tác giả thu nhỏ lại qua hình ảnh xóm ngụ cư:

_ Quang cảnh xóm ngụ cư

 +Con người dở sống dở chết: Người chết như ngả rạà tác giả dùng hình ảnh so sánh để miêu tả cảnh người chết hàng loạt vì nạn đói.

 “Người sống xanh xám như những bóng maà Kim Lân sử dụng hình ảnh so sánh để miêu tả cái đói đã khiến con người tiều tụy, xơ xác. “Người nằm ngổn ngang khắp các lều chợ”, “trẻ con ngồi ủ rủ... không buồn nhúc nhích”   -> các từ láy “ngổn ngang”, “nhúc nhích” thể hiện cảnh người đói phải từ bỏ quê hương đi tha hương cầu thực. Trẻ con vốn hiếu động nhưng vì đói không còn đủ sức để hoạt động nữa.

  +Mùi vị ẩm thối: Mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người” cho thấy sự sống lụi tàn.

  +Âm thanh thê lương: Tiếng quạ trên cây gạo, ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết” cùng với “tiếng khóc hờ tỉ têà bằng hình ảnh nhân hóa tiếng quạ…gào lên + từ láy “thê thiết”, “tỉ tê”miêu tả âm thanh ghê rợn gợi sự chết chóc, tang thương

+ Bóng tối bao trùm: Hai bên dãy phố úp súp, tối om, không nhà nào có ánh đền, lửa”  à xóm ngụ cư chìm trong bóng tối vì người dân không có tiền mua dầu

è Quang cảnh xóm ngụ cư ngày đói như một đám tang lớn thê lương, ảm đạm. Trong tình cảnh đó, anh Tràng lại nhặt được vợ.

 

 C.GIÁ TRI NHÂN ĐẠO (HÌNH ẢNH NGƯỜI LAO ĐỘNG)

I. Nhân vật anh Tràng được miêu tả khá độc đáo:

1. Ngoại hình anh Tràng xấu xí, thô kệch:Cái đầu trọc nhẵn”, “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh ra”, “cái lưng to lớn như lưng gấu”à Bằng những hình ảnh giàu sức gợi tả, tác giả miêu tả ngoại hình  thiếu hài hòa của anh Tràng.

   2. Anh Tràng ăn nói thiếu duyên, cộc lốc vừa đi vừa nói lảm nhảm những điều hắn đang nghĩ” , “vừa nói vừa cười hềnh hệch” “làm đếch gì có vợ”.

3. Anh Tràng có hoàn cảnh bất hạnh

 + Nhà nghèo: dân ngụ cư, làm nghề kéo xe thóc thuê cho liên đoàn. Anh sống cùng người mẹ già trong “ cái nhà vắng teo, rúm ró trên mảnh vườn mọc lổm nhổm những búi cỏ dại”

+ Anh có vợ chỉ sau hai lần gặp gỡ ngắn ngủi và không qua cưới hỏi. Chị  lại là người phụ nữ bất hạnh, tứ cố vô thân không nơi nương tựa, đói cơm rách áo, ngay cả tên gọi cũng không có .

  1. Tràng có vẻ đẹp tâm hồn rất đáng quí:

a. Anh Tràng là người có tấm lòng nhân hậu:

_ Anh gặp chị lần đầu do một câu hò vu vơ

_ Anh gặp chi lần thứ hai: dù không dư giả anh vẫn sẵn sàng mời chị ăn bốn bát bánh đúc và một câu nói đùa “Có về với tớ thì khuân hàng lên xe rồi cùng về”. Khi chị nhất định theo anh, anh cũng lo sợ cho tương lai nhưng không đành lòng từ chối. Hôm ấy, anh dẫn chị vào chợ “mua cho chị một cái thúng con đụng vài thứ lặt vặt rồi đánh một bữa no nê” sau đó cùng nhau về nhà.

=> Anh Tràng là người giàu lòng yêu thương. Dù nghèo túng, anh vẫn mở lòng cưu mang, đùm bọc người cùng cảnh ngộ.

b. Anh Tràng là người khát khao hạnh phúc

* Trên đường về nhà:

_ Niềm sung sướng thể hiện rõ trên nét mặt:Tràng về với một người đàn bà. Mặt hán có vẻ gì phớn phở khác thường, hắn tủm tỉm cười một mình, hai con mắt sáng lấp lánhà hàng loạt những từ láy “phớn phở, tủm tỉm, lấp lánh” thể hiện niềm vui sung sướng rạng ngời trên nét mặt anh Tràng. Ánh mắt của anh khác hẳn khi chưa có vợ: “hai con mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều”

 _ Cử chỉ ngượng ngùng “ hắn định nói với thị một câu rõ tình tứ  mà chẳng biết nói thế nào, hắn cứ lúng ta lúng túng…đi bên người đàn bà”.

_ Anh Tràng cảm thấy hạnh phúc “có một cái gì mới mẻ lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy. Nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng tựa hồ có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng” → Nhà văn miêu tả rất chân thật và tinh tế những cảm xúc rất nhân bản của người đàn ông đang yêu.

_ Tràng quên đi thực tại túng quẫnTràng dường như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả đói khát ghê gớm đang đe dọa… Trong lòng hắn chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người dàn bà đi bên” → trong gian khổ đau thương thì hạnh phúc là điều đáng trân trọng nhất. 

c. Anh Tràng biết trân trọng hạnh phúc

_ Dù không dư giả anh vẫn dành hai hào mua dầu để thắp sángvợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ”. Hình ảnh ngọn đèn dầu không chỉ có ý nghĩa thắp sáng không gian, mà nó còn là dấu hiệu báo trước cuộc đời Tràng sẽ thay đổi từ đây.

* Về đến nhà:

_ Anh Tràng rất coi trọng sự kiện mình có vợ, tuy chỉ là “vợ nhặt”. Anh giới thiệu người “vợ nhặt” với mẹ thật dịu dàng và thân thiết “nhà tôi nó về làm bạn với tôi đấy u ạ”. Anh mời mẹ ngồi lên giường   rồi mới thưa chuyện.

d. Anh Tràng có ý thức trách nhiệm với gia đình

* Từ khi có vợ:

- Tràng bỗng chợt nhận ra xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi, mới mẻ, khác lạ”.   Người “vợ nhặt” đã đem đến cho gia đình anh một sinh khí mới . Thấy cảnh mẹ chồng, nàng dâu quét tước nhà cửa, anh rất xúc động và mong muốn  gia đình hạnh phúc

_ Hạnh phúc tình yêu đã làm Tràng thay đổi theo chiều hướng tốt:

  • Trước đây, nhìn nhà mình anh chỉ thấy đó là “cái nhà vắng teo, đứng rúm ró trên một mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”
  • Bây giờ, anh cảm   thấy yêu thương gắn bó với cái nhà  lạ lùng.  Tràng thấy mình “nên người” .Chính tình cảm vợ chồng đã nhen nhóm ngọn lửa yêu thương và ý thức trách nhiệm với gia đình của mình “hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này” → sau đó Tràng cũng “xăm xăm ra sân dọn dẹp nhà cửa”. Hành động, cử chỉ ấy đâu phải chỉ là một việc bình thường mà là một sự chuyển biến lớn.

e. Tràng biết  hy vọng ở tương lai. Trong tình cảnh túng đói nhưng anh không tuyệt vọng.

- Trong bữa cơm ngày đói chỉ có “ một lùm rau chuối   và một đĩa muối ăn với cháo” nhưng cả nhà vẫn ăn ngon lành.

- Bữa ăn có thêm món cháo cám đắng chát,  không khí bên ngoài căng thẳng ảm đạm, dễ nảy sinh tuyệt vọng nhưng Tràng cùng gia đình bàn tán chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật chia cho người đói.

- Trong ý nghĩ Tràng hiện lên hình ảnh “đám người đói và lá cờ đỏ trên đê Sộp” với cảm giác hối hận vì lúc đó không hiểu nên anh đã kéo xe đi lối khác à trong hoàn cảnh khốn cùng dù cận kề cái chết nhưng anh không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống và hy vọng vào tương lai

- “Trong óc Tràng vẫn hiện lên đám người đói và lá cờ đỏ phấp phới” là một kết thúc mở, mở ra lối ra đi tươi sáng cho những mảnh đời tăm tối. Chúng ta tin, anh Tràng sẽ đến với Việt Minh, với Cách mạng vì đó là con đường duy nhất, tất yếu, để anh có thể bảo vệ được hạnh phúc mà mình vừa có được.

=> Tóm lại: anh Tràng là người có số phận bất hạnh nhưng lại có một tâm hồn đẹp đẽ.

ĐÁNH GIÁ

v Nội dung:

         Qua nhân vật anh Tràng, truyện ngắn “Vợ Nhặt” không chỉ tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp và phát xit Nhật đã đẩy người nông dân nước ta vào tình cảnh thê thảm trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, mà còn thể hiện được bản chất tốt đẹp và sức sống kỳ diệu của người Việt Nam: Ngay trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khao khát tổ ấm gia đình và yêu thương đùm bọc nhau ,cùng hướng về tương lai tươi sáng.

v Nghệ thuật:

- Tg đã xd thành công nhận vật điển hình. Anh Tràng tiêu biểu cho người nông dân nghèo trước CM.

-  Tác giả đã xuất sắc tạo ra tình huống nhặt vợ độc đáo, cảm động của anh Tràng, một người nông dân nghèo khổ, xấu xí bỗng nhặt được vợ trong nạn đói (giá trị con người trở nên rẻ rúng)

- Tác giả miêu tả chân thật sinh động tâm lí nhân vật. Tràng từ “ngờ ngợ” đến “phớn phở khác thường” và “thấy mình nên người”

- Cách xây dựng truyện tự nhiên, đơn giản và chặt chẽ, trần thuật bằng dòng hồi tưởng của Tràng khi dẫn vợ về nhà và trần thuật bằng lời đối thoại giữa các nhân vật...

- Ngôn ngữ truyện gần với khẩu ngữ, có sự chọn lọc tinh tế...

2) Bà cụ Tứ :

          Bà cụ Tứ mang tâm hồn cao đẹp, lối sống bình dị, giản đơn, đôn hậu, luôn khao khát một ngày mai tươi đẹp mặc dù đang rơi vào hoàn cảnh nghiệt ngã của cuộc sống.

a .Hoàn cảnh đáng thương:

­ Đó là một người mẹ già nua, nghèo khổ, sống với người con trai trong túp lều xiêu vẹo, với một cuộc sống thật mong manh trong nạn đói tại  một xóm ngụ cư. “Ngoài đầu ngõ có tiếng người húng hắng ho, một bà lão từ ngoài rặng tre lọng khọng đi vào” .  Những từ láy làm hiện lên hình ảnh một người mẹ già yếu với cuộc sống  thật  khó khăn, vất vả.  Cũng như bao nhiêu người khác, Bà là nạn nhân của nạn đói khủng khiếp năm 1945 do Phát xít Nhật và thực dân Pháp gây ra.

b. Diễn biến tâm trạng  của bà được miêu tả rất tinh tế:

  • Lúc đầu: người mẹ ngạc nhiên bất ngờ  vì thấy trong nhà có ngưới đàn bà lạ, một người đàn bà không biết từ đâu đến.“Bà lão đứng sững lại, bà lão càng ngạc nhiên hơn”. Bà đã quen với cuộc sống chỉ có hai mẹ con từ trước đến giờ. Nay trong hoàn cảnh đói kém triền miên lại xuất hiện thêm người lạ về cùng con trai làm bà thật khó xử.
  • Khi hiểu ra người đàn bà lạ mà con trai mình đưa về sẽ là vợ của nó, tâm trạng của bà có nhiều cảm xúc lẫn lộn đan xen.(tủi, mừng, lo lắng, động viên, vun vén hạnh phúc)

     +Tủi thân, tủi phận:

- Bà tự xót thương cho số phận mình: buồn  vì nghèo nên không lo được đám cưới đàng hoàng cho con. “Bà lão cúi đầu nín lặng, hai dòng nước mắt trong kẽ mắt kèm nhèm”.Cưới hỏi là chuyện trọng đại cả đời người. Vậy mà bà không lo được cho con vì cuộc sống quá nghiệt ngã, cái nghèo đã khiến lòng bà quặn đau. “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi. Còn mình thì…”. Dấu ba chấm ở dòng độc thoại nội tâm cho thấy  lòng người mẹ thật cao cả. Xót thương cho mình cũng là xót thương cho con. Bà tự trách mình là người mẹ mà không lo được cho con.

      + Lo lắng cho con:  Bà tự hỏi: “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không ?”.Câu độc thoại nội tâm cho thấy bao lo lắng trăn trở diễn ra trong lòng người mẹ nghèo. Lòng người mẹ luôn hướng về con, luôn mong mỏi cho con có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Bà không suy nghĩ đến bản thân mình đang sống như thế nào. Người mẹ lúc nào cũng yêu thương, che chở, đùm bọc cho con mình.  Cái nghèo không chỉ đe dọa đến bữa ăn của con bà mà còn đe dọa đến cả tính mạng con bà nữa.

      + Mừng, thương con trai và con dâu:

- Sau chuỗi dài hờn tủi, lo lắng, Bà cụ Tứ như tự an ủi: “Người ta gặp bước khó khăn, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được”.Suy nghĩ thật khiêm tốn, nhân từ, bà chấp nhận sự thật nghèo khổ nhưng lại cảm thấy vui vì người đàn bà nọ đã chấp nhận lấy con mình. Bà hạnh phúc khi con mình có vợ cho dù đang trong cảnh đói kém. Người mẹ ấy  thật nhân từ , độ lượng biết bao!

-  Bà “nhẹ nhàng nói với nàng dâu mới: Ừ thôi thì các con phải duyên, phải kiếp với nhau, U cũng mừng lòng…”. Bà chấp nhận nàng dâu dù không qua cưới hỏi, bà bỏ qua định kiến khắt khe của xã hội, dịu dàng và ân cần với nàng dâu cũng như với con trai mình. Bà “mừng lòng” chứ không phải “bằng lòng”  thể hiện niềm vui trong lòng bà thể hiện ra hết với nàng dâu mới, người vợ sẽ chung sống cả đời với con trai bà. “Bà nhìn người đàn bà đầy lòng thương xót. Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi”.

       + Động viên, gieo vào lòng con niềm tin ở cuộc sống:

-  Bà nói: “Vợ chồng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra thì ông trời cho khá. Biết thế nào hả con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời… khi nào khá ta mua lấy đôi gà… ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy chốc có ngay đàn gà cho mà xem”. Câu văn thể hiện sự lạc quan, tin tưởng vào ngày mai tươi sáng. Bà nhẹ nhàng động viên, dạy bảo các con cách làm ăn, cách ăn ở: phải biết đặt niềm tin vào tương lai mặc dù phải chịu cảnh cơ cực, nghèo khó.

“Bà lão toàn nói chuyện vui, toàn chuyện sung sướng sau này”. Hiện thực nghèo đói và cái chết luôn rình rập đã không còn hiện hữu trong căn nhà của cụ Tứ nữaBà cụ Tứ đã quên đi cảnh túng quẫn khốn khó đang đe dọa. Bà chỉ còn thấy vui và hạnh phúc. Đơn giản là con trai bà đã nên gia thất – dẫu  không có cưới hỏi cho đàng hoàng. Bà đã có dâu. Người ta đã không chê gia cảnh nghèo nhà bà thì bà không thể cứ ưu tư buồn bã.

-> Tác giả miêu tả tinh tế tâm trạng phức tạp (vừa buồn lại vừa vui, vừa mừng lại vừa lo, vừa tủi thân lại vừa sung sướng…) của một bà mẹ nghèo nhân từ, độ lượng, bao dung hết lòng vì con.

        + Vui sướng và góp phần vun vén hạnh phúc cho con:

- “Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường. Bà lão xăm xắn thu dọn, quét tưới nhà cửa”  Nàng dâu mới như đã đem đến cho gia đình một sinh khí mới. Hai tính từ “nhẹ nhõm, tươi tỉnh” cho thấy bà thật sự rất hạnh phúc khi thấy con mình  hạnh phúc. Bà “xăm xắn” dọn dẹp nhà cửa với hi vọng nhà cửa quang đãng, sạch sẽ thì cuộc sống sẽ hấm khá hơn.  Bà không ngừng tin vào một ngày mai tốt đẹp.

- Trong bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới, Kim Lân miêu tả: “Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại… một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo” vẫn chưa no phải ăn thêm cháo cám” à Nhưng bà cười vui tíu tít để tạo không khí vui vẻ cho con.  Dường như với bà, tình cảm con người và hạnh phúc của con trai bà lúc này mới là quan trọng.  Bà quay mặt khóc khi nghe tiếng trống thúc thuế ngay trong bữa ăn đầu tiên của đôi vợ chồng mới. Hiện thực nghèo đói và áp bức bóc lột vẫn bủa vây lấy người mẹ nghèo tội nghiệp. Nhưng bà không muốn để  hai con trông thấy nỗi đau của mình. Nỗi đau ấy chỉ mình bà nén chặt vào trong.

 => Tg đã thể hiện chân thực, sắc sảo tâm trạng nhân vật: cố làm cho con vui, cố giấu nỗi đau luôn bị cái buồn ám ảnh, xâm nhập. Qua đó ta thấy tất cả  lòng yêu thương con và sự hi sinh cao cả của người mẹ.

3) Người vợ nhặt 

a. Hoàn cảnh  rất đáng thương, tội nghiệp:

-  Chị không có tên gọi. Đề cập đến người phụ nữ này, nhà văn khi thì gọi “người đàn bà”, khi thì gọi là “thị”, có lúc lại gọi là “người con dâu”.

- Không quê quán, đói cơm rách áo áo quần tả tơi như tổ đỉa, gầy xọp, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ thấy hai con mắt”

- Chị lấy Tràng chỉ nhờ một câu nói đùa và bốn bát bánh đúc mà chị “cắm đầu ăn liền một mạch”

b. Diễn biến tâm trạng của chị được miêu tả sâu sắc:

- Trước khi về với Tràng, người phụ nữ mang tâm lý của người sống vất vưởng nên chua ngoa, đanh đá,  ăn nói chỏng lỏn. Chị theo Tràng về làm vợ mà không có một nghi thức nào vì cả hai cùng nghèo. Với chị, đó là cảnh “vợ theo”, với anh, đó là người “vợ nhặt”

- Trên đường về nhà Tràng, chị cũng e lệ, thẹn thùng như bao người phụ nữ khác khi lấy chồng: “ngượng ngùng”, “kéo nghiêng vành nón”. Dù trong bất kì hoàn cảnh nào, chị vẫn mang những nét rất duyên của người phụ nữ Việt nam. 

- Về đến nhà chị nén một tiếng thở dài”, “nhếch mép cười nhạt nhẽo”, “ nét mặt bần thần khi ngồi ở mép giường” “hai con mắt thoáng tối lại khi ăn bát cháo cám” -> Người đàn bà thoáng lo lắng, xót xa, hạnh phúc xen lẫn buồn tủi khi thấy tình cảnh nhà chồng. Nhà văn vô cùng tinh tế trong việc thể hiện diễn biến tâm trạng của người phụ nữ bằng những chi tiết tưởng như chỉ thoáng qua

- Từ khi có mái ấm gia đình, tâm tính chị cũng thay đổi. Chị trở thành người phụ nữ “hiền hậu đúng mực”, chăm chút cho gia đình. Cuộc sống đã thổi vào tâm hồn chị một luồng gió mới.

- Chị còn là người am hiểu thời cuộc khi kể cho mẹ và chồng nghe cảnh người đói ở Thái Nguyên phá kho thóc Nhật. Nỗi khó khăn vẫn còn nhưng rõ ràng chị đã hướng về sự sống, hướng về tương lai.

=> Tóm lại: Chị là nạn nhân của nạn đói năm ấy. Cuộc sống đau thương khiến giá trị rẻ rúng. Khi sống trong tình thương yêu chị trở thành người phụ nữ hiền thục, khéo vén, đảm đang được mẹ chồng và chồng thương mến.

 

                                   

 

 

 

                                       CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

                                                          Nguyễn Minh Châu

I.Vài nét về tác giả

– Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989), quê ở làng Thơi, xã Quỳnh Hải (nay là xã Sơn Hải), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

– Đẩu năm 1950, ông gia nhập quân đội. Từ năm 1952 đến 1958, ông công tác và chiến đấu tại sư đoàn 320. Năm 1962, ông vê’ cồng tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Vãn nghệ quân đội.

– Sau 1975, khi văn chương chuyển hướng khám phá trở về với đời thường, Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Tâm điểm những khám phá nghệ thuật của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn tìm kiếm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách.

– Ông là một trong số những “nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học ta hiện nay” (Nguyên Ngọc). Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

*Tác phẩm chính: Dấu chân người lính (1972), Miền cháy (1977), Chiếc thuyền ngoài xa (1987).

 

II.Vài nét về tác phẩm

  1. Xuất xứ văn bản

Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Cái nhìn hiện thực đa chiều đã giúp cho nhà văn nhận ra đời sống con người cả ở những sự kiện bể nổi lẫn những khuất lấp trong bể sâu của nó, nhận ra cả những quy luật tất yếu lẫn những ngẫu nhiên, may rủi đẩy bất trắc và khó lường hết của đời sống. Ông luôn day dứt về việc con người phải chịu đựng, phải chấp nhận những nghịch lí mà lẽ ra không đáng có trong một cuộc sống vốn đã tốt hơn.

2. Bố cục

– Chia thành hai đoạn:

+ Đoạn 1: Từ đầu đến “chiếc thuyền với gió đã biến mất”: Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh.

+ Đoạn 2: Còn lại: Câu chuyện của người đàn bà hàng chài.

III.Nội dung cần nắm

1. Phát hiện thứ nhất đầy thơ mộng của người nghệ sĩ

– “Trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu… tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự hoàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”.

+ Đôi mắt tinh tường “nhà nghề” của người nghệ sĩ đã phát hiện vẻ đẹp trời cho trên mặt biển mờ sương, vẻ đẹp mà cả đời bấm máy anh chưa từng bắt gặp. Người nghệ sĩ cảm thấy hạnh phúc – đó là niềm hạnh phúc của sự khám phá và sáng tạo, của sự cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu. Trước hình ảnh của chiếc thuyền ngoài xa giữa biển trời mờ sương, anh đã cảm nhận cái đẹp toàn bích, hài hoà, lãng mạn của cuộc đời, thấy tâm hổn mình như được thanh lọc, gột rửa.

– Cảm hứng triết lí về nghệ thuật:

+ Vẻ đẹp của “cái đẹp tuyệt đỉnh”:  Nghệ thuật là sự giản dị, tự nhiên.

+ “Cái đẹp là đạo đức”: Khoảnh khắc phát hiện ra một tác phẩm độc đáo là sự “khám phá chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”.

—» Cái đẹp “thanh lọc” tâm hồn, để tâm hồn con người cao khiết, không gợn đục, thánh thiện.

*Sự phát hiện ra cái đẹp trong nghệ thuật đôi khi là sự kết hợp của rung động và duyên may. Nhìn ở góc độ này, nó là thứ dẫu sao còn tương đối dễ phát hiện, dễ thấy.

2. Phát hiện thứ hai đẩy nghịch lí của người nghệ sĩ nhiếp ảnh

 Điểm nhìn: Chiếc thuyền đâm thẳng vào chỗ trước tôi đứng —» gần, trực diện, rõ nét.

– Hình ảnh:

+ Người đàn bà: Cao lớn, với những đường nét thô kệch, mặt rỗ, vẻ mặt mệt mỏi (…) tái ngắt và dường như đang buồn ngủ, tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới.

+ Người đàn ông: Tấm lưng rộng và cong, mái tóc tổ quạ, chân đi chữ bát, hàng lông mày cháy nắng, hai con mắt đẵy vẻ độc dữ.

—» Hình ảnh xấu xí, xù xì, trần trụi, thô mộc, gai góc của đời sống, đối lập với vẻ lãng mạn của khung cảnh thiên nhiên trong bức ảnh nghệ thuật.

– Hành động:

+ Người chồng: Hùng hổ rút chiếc thắt lưng, “chẳng nói chẳng rằng” quật tới tấp vào lưng người đàn bà —» hành động hung bạo, dã man, lạnh lùng như một con thú dữ.

+ Người vợ: Cam chịu đẩy nhẫn nhục, không hề kêu lên một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn.

+ Đứa con: Giằng thắt lưng, quật lại bố để bảo vệ mẹ.
—> Giống như một vở kịch câm, không lời chú giải, đầy nghịch lí khiến câu hỏi về hiện thực trong Phùng như muốn vỡ ra.

*Phát hiện về một hiện thực gồ ghề, gai góc, ngang trái, phức tạp, không dễ lí giải, khác xa, thậm chí đối lập với vẻ đẹp bình yên của tác phẩm nhiếp ảnh.

3. Mối quan hệ giữa hai phát hiện (mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, giữa nhà văn và cuộc đời)

– Phát hiện nghệ thuật, ở một chừng mực nhất định dễ thấy hơn phát hiện về hiện thực.

– Đời sống con người vốn bề bộn, phức tạp. Hiện thực không giản đơn, toàn màu hồng mà đa chiều, phân tranh nhiều mảng sáng tối không dễ lí giải. Nhà văn nếu đứng ở ngoài xa để quan sát sẽ chỉ thấy một hiện thực mờ ảo – chiếc thuyền thấp thoáng biển khơi. Từ đó đòi hỏi nhà văn phải có cái nhìn sâu sắc, suy tư đa chiều hơn nữa.

IV. Về các nhân vật trong truyện

a. Người đàn bà hàng chài và câu chuyện đời tự kể

– Hình dáng: Thô mộc, xấu xí, như nét vẽ vội của tạo hoá, mang những đặc trưng của một người đàn bà miền biển lam lũ.

– Thái độ, hành động khi được mời tới toà án:

+ Sợ sệt, lúng túng, tìm đến một góc tường để ngồi.

+ Rón rén ngồi ghé vào chiếc ghế mà Đẩu mời.

+ Van xin chính quyển đừng bắt chị bỏ người chổng vũ phu: “Quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”.

—» Kiên quyết không bỏ chồng bằng mọi giá.

+ Hành động ẩn chứa nhiều nghịch lí, gây bất ngờ đối với cả Đẩu và Phùng

—» Một sự thật không dễ lí giải trong hoàn cảnh người đàn bà phải chịu đựng những trận đánh thừa sống thiếu chết. (Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng).

—» Câu hỏi đặt ra: Điều gì khiến người đàn bà khốn khổ ấy tha thiết bám víu cuộc sống địa ngục kinh hoàng với người chồng hung bạo?

– Câu chuyện cuộc đời:

+ Cách xưng hô: Con, quý toà – chị, các chú —»thay đổi tương quan: bị động, yếu thế, thiếu tự tin, bề dưới nói với bê’ trên —» chủ động, bình đẳng, con người có hiểu biết nói với người đang lắng nghe.

+ Nội dung câu chuyện:
• Xấu, buộc phải lấy anh làng chài.
• Đám đàn bà đẻ nhiều quá, mà thuyên lại chật.
• Bất kể lúc nào khổ quá, chổng lại lôi ra đánh, ngay trên thuyền, sau này xin mãi mới được lên bờ chịu đòn.
• Lí lẽ để “đừng bắt tôi bỏ nó”: Vì cần có một người đàn ông chèo lái và ở trên thuyền cũng có lúc vợ chổng con cái sống hòa thuận, vui vẻ.
• Giá đẻ ít đi -> biện minh cho hành động hung hăng của chổng bằng cách chỉ ra lỗi thuộc về sự nghèo đói, lạc hậu, “đẻ lắm”.
• Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết nỗi vất vả của một người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông (…) những khi biển động.
—» Vì cần một trụ cột.
• Đàn bà trên thuyền phải sống cho con chứ không thể sống cho mình.
—» Vì trách nhiệm, tấm lòng vị tha, bản năng hi sinh của một người mẹ.
• Cũng có lúc vợ chổng con cái sống hòa thuận, vui yẻ.
—» Cuộc sống với người đàn ông “dã man” kia không phải không có những khoảnh khắc đầm ấm hạnh phúc.

* Qua nội dung câu chuyện, cách kể và ngôn ngữ kể chuyện, người đọc thấy được:

– Số phận người đàn bà: Đau khổ, bất hạnh, buộc phải bảo vệ, duy trì một cuộc sống bị đày đoạ, đánh đập.

– Tính cách: Yêu thương con, vị tha, nhân hậu, am hiểu lẽ sống giản đơn của một người đàn bà hàng chài.

– Sự lí giải, làm sáng tỏ hiện thực đời sống đầy nghịch lí mà Phùng và Đẩu “không thể hiểu được”.

b. Về người đàn ông vũ phu

Cuộc sống đói nghèo đã biến “anh con trai” cục tính nhưng hiển lành xưa kia thành một người chồng vũ phu. Lão đàn ông có “mái tóc tổ quạ”, “chân chữ bát”, hai con mắt đầy vẻ độc dữ vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên đau khổ cho người thân của mình. Phải làm sao để nâng cao cái phần thiện, cái phần người trong những kẻ thô bạo ấy?

c. Chị em thằng Phác

Bị đẩy vào tình thế khó xử khi ở trong hoàn cảnh ấy. Chị thằng Phác, một cô bé yếu ớt mà can đảm, đã phải vật lộn để tước con dao trên tay thằng em trai, ngăn em làm việc trái luân thường đạo lí. Cô bé là điểm tựa vững chắc của người mẹ đáng thương, cô đã hành động đúng khi cản được việc làm dại dột của đứa em, lại biết chăm sóc, lo toan khi mẹ phải đến toà án huyện. Thằng Phác thương mẹ theo kiểu một cậu bé còn nhỏ, theo cái cách một đứa bé trai vùng biển. Nó “lặng đưa mấy ngón tay sờ lên khuôn mặt người mẹ, như muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chẵng chịt”, “nó tuyên bố với các bác ở xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt ở biển này thì mẹ nó không bị đánh”. Hình ảnh thằng Phác khiến người đọc cảm động bởi tình thương mẹ dạt dào.

d. Người nghệ sĩ nhiếp ảnh

Vốn là người lính thường vào sinh ra tử, Phùng căm ghét mọi sự áp bức, bất công, sẵn sàng làm tất cả vì điều thiện, lẽ công bằng. Anh xúc động ngỡ ngàng trước vẻ đẹp tinh khôi của thuyền biển lúc bình minh. Một người nhạy cảm như anh tránh sao khỏi nỗi tức giận khi phát hiện ra cảnh đẹp huyền ảo trên biển. Hơn bao giờ hết Phùng hiểu rõ: trước khi là một nghệ sĩ rung động trước cái đẹp phải là một người biết yêu ghét vui buồn trước mọi lẽ đời thường, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người.

5. Cách xây dựng cốt truyện độc đáo

Trong tác phẩm, đó là sự kiện Phùng chứng kiến lão đàn ông đánh vợ một cách tàn bạo. Trước đó, anh nhìn đời bằng con mắt người nghệ sĩ, rung động, say mê trước vẻ đẹp huyền ảo, thơ mộng của thuyền biển. Trong giây phút tâm hồn thăng hoa những cảm xúc lãng mạn, Phùng phát hiện ra hiện thực nghiệt ngã của đôi vợ chổng bước ra từ con thuỵển “thơ mộng”.

Tình huống đó được lặp lại lần nữa: Bên cạnh người đàn bà nhẫn nhục, chịu đựng “đòn chồng”, Phùng còn được chứng kiến phản ứng của chị em thằng Phác trước sự hung bạo của người cha đối với mẹ. Từ đó, trong người nghệ sĩ đã có sự thay đổi cách nhìn đời. Anh thấy rõ những cái ngang trái trong gia đình thuyền chài, hiểu sâu thêm về người đàn bà, chị em thằng Phác, hiểu thêm người đồng đội Đẩu và hiểu thêm chính mình.

Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được tình huống mà ở đó bộc lộ mọi mối quan hệ, bộc lộ khả năng ứng xử, thử thách phẩm chất, tính cách, tạo ra những bước ngoặt trong tư tưởng, tình cảm và cả trong cuộc đời nhân vật. Tình huống truyện mang ý nghĩa khám phá, phát hiện đời sống.

6. Ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm

– Ngôn ngữ người kể chuyện: Thể hiện qua nhân vật Phùng, sự hoá thân của tác giả. Chọn người kể chuyện như thế đã tạo ra một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng cường khả năng khám phá đời sống, lời kể trở nên khách quan, chần thật, giàu sức thuyết phục.

– Ngôn ngữ nhân vật: Được cá thể hóa, phù hợp với đặc điểm tính cách của từng người. (Ngôn ngữ của người đàn bà: lóng ngóng, van lơn khi mới đối diện với “quý toà”; chững chạc, thấu trải khi tự kể câu chuyện đời mình; dịu dàng, xót xa khi nói với con; lời lẽ của người đàn ông: tàn nhẫn, cục cằn,..

 

 

                                                  

 

 

                      SỐ PHẬN CON NGƯỜI

                   Sô – Lô – Khốp

I.Một vài nét về tác giả

A. Sô-lô-khốp (1905-1984) là nhà văn Xô viết lỗi lạc, được vinh dự nhận giải thưởng Nô-ben về Văn học năm 1965 (ông còn được nhận giải thưởng Lê-nin, Giải thưởng văn học quốc gia.

- Cuộc đời và sự nghiệp của Sô-lô-khốp gắn bó mật thiết với sự ra đời của một chế độ-chế độ xã hội chủ nghĩa tại vùng đất sông Đông trù phú, đậm đà bản sắc văn hoá người dân Cô-dắc.

 

- Là nhà văn xuất thân từ nông dân lao động, Sô-lô-khốp am hiểu và đồng cảm sâu sắc với những con người trên mảnh đất quê hương. Đặc điểm nổi bật tròn chủ nghĩa nhân đạo của Sô-lô-khốp là việc quan tâm, trăn trở về số phận của đất nước, của dân tộc, nhân dân cũng như về số phận cá nhân con người.

 

- Phong cách nghệ thuật của Sô-lô-khốp: nét nổi bật là viết đúng sự thật. Ông không né tránh những sự thật dù khắc nghiệt trong khi phản ánh những bức tranh thời đại rộng lớn, những cảnh đời, những chân dung số phận đau thương. Trong sáng tác của ông, chất bi và chất hùng, chất sử thi và chất tâm lí luôn được kết hợp nhuần nhuyễn.

 

- Những tác phẩm tiêu biểu:

+ Sông Đông êm đềm: 1927.

+ Đất vở hoang I: 1932.

+ Đất vỡ hoang II: 1959.

+ Số phận con người: 1956.

II.Một vài nét về tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác

– Hoàn cảnh sáng tác: tác phẩm được viết từ khi chiến tranh thế giới kết thúc năm 1957, tinh thần dân chủ tràn ngập nước Nga. Đồng thời khi đó văn học nghệ thuật đi sâu vào thâm nhập tìm hiểu đời sống số phận con người.
– Thể loại: tiểu thuyết anh hùng ca.

b. Tóm tắt.

Truyện Số phận con người ra đời năm 1956 là một trong những sáng tác xuất sắc của M. Sô-lô-khốp những năm sau chiến tranh. Truyện khai thác đề tài số phận con người sau chiến tranh qua cuộc đời nhân vật Xô-cô-lốp. Truyện gồm hai phần: mở đầu, kết thúc và ba chương. Xô-cô-lốp là một cậu bé mồ côi, chăm chỉ. Lớn lên lấy vợ và có một gia đình hạnh phúc với hai con gái và một cậu con trai - một học sinh giỏi toán.

       Chiến tranh bùng nổ anh tham gia Hồng quân rồi bị phát xít bắt giam. Vợ và hai con gái đã bị bom phát xít chôn vùi cùng với ngôi nhà. Thoát khỏi nhà tù phát xít, anh đã vô cùng hạnh phúc khi nhận được tin cậu con trai đang là đại uý pháo binh, một sĩ quan dũng cảm. Sắp tới ngày chiến thắng hai cha con hẹn gặp nhau. Anh hồi hộp và chờ đợi giờ phút ấy. Và anh đã được gọi đến để nhìn mặt con lần cuối. Con trai anh đã hy sinh vào đúng ngày chiến thắng. Anh vô cùng đau đớn khi phải "chôn trên đất người niềm vui sướng, niềm hy vọng cuối cùng" của mình.

      Trở về cuộc sống thường nhật với một nỗi đau và sự mất mát quá lớn Xô-cô-lôp lang thang kiếm sống khắp nơi. Anh kiếm được chân lái xe cho đội vận tải lương thực. Và anh đã gặp cậu bé Va-ni-a bị lạc mất bố mẹ trong chiến tranh. Thương cậu bé cùng cảnh, anh nhận cậu bé làm con nuôi, còn cậu bé lại tưởng anh là cha đẻ của nó. Hai người đã dựa vào nhau mà sống. Từ đó anh thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn cho dù sự có mặt của Va-ni-a chưa đủ để làm vơi nỗi đau trong anh. Rồi một điều không may xảy ra, một con bò đâm vào xe Xô-cô-lôp làm anh bị tước mất bằng lái. Hai cha con tạm biệt vợ chồng người bạn rồi dắt nhau đi tìm một vùng đất mới. Đoạn trích thuộc phần cuối tác phẩm, bắt đầu từ khi Xô-cô-lôp trở về từ đám tang con trai với nỗi đau vô tận, rồi anh gặp và nhận Va-ni-a làm con cho đến kết thúc tác phẩm.

      Tác phẩm là câu chuyện cảm động về số phận con người trong và sau chiến tranh. Nhà văn đã thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của mình đối với số phận con người, qua đó ngợi ca tính cách Nga nhân hậu, kiên cường và bất khuất.


- Nhân vật trung tâm: Xô-cô-lốp và Va-ni-a

- Nhân vật chính của truyện là An- đrây Xô cô lốp - từng là một người lính Xô -viết . Anh đã kể cho tác giả nghe về cuộc đời đau khổ của mình ...

c. Giá trị.

- Tác phẩm là cột mốc quan trọng mở ra chân trời mới cho văn học Xô Viết.

- Truyện có một dung l­ượng tư­ tưởng lớn khiến cho có ng­ười liệt nó vào loại tiểu anh hùng ca.

d. Vị trí đoạn trích.

Thuộc phần cuối truyện kể về quãng đời sau chiến tranh của sô-cô-lốp.



III.Nội dung cần nắm

1. Chiến tranh và thân phận con người. 

a) Hình tượng Xô-cô-lốp.

* Trong chiến tranh.

+ Là một chiến sĩ Hồng Quân kiên cường, khí phách.

+ Qua lời nói của tên chỉ huy Đức khi anh bị bắt làm tù binh.

Mày là một thằng lính Nga chân chính. Tao cũng là lính tao trọng những địch thủ có khí tiết. Tao sẽ không bắn mày.

+ Chiến đấu bị thương hai lần.

+ Bị đày đọa trong trại tập trung của phát xít Đức vẫn giữ khí phách anh hùng của người Lính Xô Viết.

+ Vợ và con gái bị bom giết hại từ 1942.

+ Con trai A-na-tô-li một học sinh giỏi toán, đại úy pháo binh, hy sinh trong ngày chiến thắng tại Béc lin. 

=> Chịu nhiều đau thương cay đắng đối diện với nỗi đau cùng cực

 

* Sau chiến tranh(Trước khi gặp bé Va-ni-a)

 

- Hoàn cảnh:

“ Tôi đã chôn trên đất người........ cuối cùng của tôi” chịu trăm ngàn cay đắng.

+ Không vợ con, không nhà cửa không hy vọng không trở về quê hương.

+ Anh sống nhờ bạn để tìm kế sinh nhai nhưng không gặp may, bị mất việc, anh mượn rượu để giải sầu.

=> Chiến tranh đã tước đoạt những gì quý giá nhất:quê hương,gia đình,niềm hạnh phúc,niềm hi vọng.

- Tâm trạng:

+ Vỡ tung, mất hồn, Rơi vào nỗi đau cùng cực Âm thầm chịu đựng.

+ Sống như người lao động bình thường.

+ Tìm đến rượu để giảm và quên hết nỗi đau Bế tắc.

+ Những giọt nước mắt: nỗi đau không thể diễn tả bằng lời

+ Dù gặp nhiều đau khổ nhưng anh không bao giờ than vãn=> anh là người kiên cường (tính cách Nga).

 

b. Bé Va-ni-a

 

–Cậu bé xuất hiện trong một bộ dạng vô cùng thảm thương.
–Một cậu nhóc bé tí mà quần áo rách bươm xơ mướp suốt ngày lang thang ai cho gì thì ăn cái nấy.

- Đôi mắt "như ngôi sao sáng ngời".

- Sự ngây thơ, tội nghiệp, không nơi nương tựa- nạn nhận tội nghiệp của thời chiến.

-> Cả hai người một lớn một bé đều rơi vào hoàn cảnh giống nhau đó là mất hết người thân chỉ còn một mình sống trên cõi đời này. Hậu quả của chiến tranh để lại vô cùng lớn không chỉ là nỗi đau về da thịt mà còn là nỗi đau về tinh thần.

Hai người đến bên nhau đùm bọc cưu mang nhau cùng vượt lên số phận.

* Nhận Va-ni-a làm con nuôi:

- "không thể để cho mình với nó chìm nghỉm riêng lẻ được, mình phải nhận nó là con" => Hai con ngời không nơi nương tựa phải dựa vào nhau trong cuộc sống. Đây là quyết định bột phát, xuất phát từ lòng thương người không tính toán.

- Từ sau khi nhận bé Va-ni-a làm con nuôi:

+ Tâm hồn anh nhẹ nhõm, bừng sáng lên.

+ Anh chăm sóc bé chu đáo, thương nó như cha con: Đêm đêm khi nhìn thấy nó ngủ anh như quên hết nỗi cô đơn quên sự buồn phiền và có động lực làm việc để cho nó có một cuộc sống tốt.

 Anh vơi bớt nỗi cô đơn, tìm thấy hạnh phúc trái tim "chai sạn vì đau khổ, nay trở nên êm dịu hơn..."

+ Bé Va-ni-a cũng rất thương anh và cần đến anh :Vania thì sung sướng, yêu thương Xô cô Lốp hôn lên mặt mũi và ôm mãi anh không rời.

Hai con người đau khổ đã nương tựa, sưởi ấm cho nhau.

Tình cảm của Xô-cô-lốp đối với bé Va-ni-a là niềm vui, niềm hạnh phúc của một trái tim đang phục hồi; tình cảm của Va-ni-a đối với Xô-cô-lốp là tình cảm gắn bó quyến luyến của một đứa bé đã tìm thấy nơi nương tựa.Có thể nói với tình yêu thương con người, với tình cảm đồng cảnh ngộ họ đã vượt qua khó khăn vượt qua nỗi đau sau chiến tranh để sưởi ấm cho nhau bằng tình yêu thương thân ái.

* Việc nhận bé Va-ni-a làm con nuôi làm Xô-cô-lốp vơi bớt nỗi cô đơn nhưng trái tim anh vẫn không trở lại được như xưa:

- Đêm nào anh cũng mơ thấy người thân quá cố.

- Ban đêm thức giấc nước mắt ước đẫm cả gối.

- Nỗi buồn đau khiến anh không ở yên một chỗ được.

=> Những đau thương, mất mát do chiến tranh gây ra không gì bù đắp nổi, thời gian cũng không xoa dịu được vết thương lòng của anh.

2. Suy nghĩ của Sô-lô-khốp về số phận con người:

- Đoạn kết ca ngợi con người Nga, tính cách Nga nghị lực kiên cường trong cuộc đời đầy khó khăn sau chiến tranh. Qua đó, tác giả nhắc nhở mọi người quan tâm đến con người, đặc biệt là người lính trở về sau chiến tranh.

- Ca ngợi trái tim nhân hậu của Xô-cô-lốp rực sáng trong thế giới hậu chiến đầy hận thù và đau khổ.

- Tính cách Nga hoà hợp trong hai phẩm chất : cứng rắn và mềm dịu của tâm hồn, ý chí kiên cường và lòng nhân ái.

IV. Tổng kết.

Đoạn trích đã tố cáo hậu quả của chiến tranh, tố cáo tội ác của những kẻ gây ra chiến tranh. Những người vốn dĩ được sống hạnh phúc thì vì chiến tranh mà không còn có ai ở bên cạnh. Họ gặp nhau dùng con tim của mình để sưởi ấm cho nhau. Có thể nói đây là một tác phẩm thành công của nhà văn Xô Lô Khốp.



NGHỊ LUẬN VÈ MỘT TÁC PHẨM, MỘT ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI

I.Kiến thức cơ bản

1. Cách làm nghị luận một tác phẩm văn học

– Đọc tìm hiểu, khám phá nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.

– Đánh giá giá trị của tác phẩm.

2. Cách làm nghị luận một khía cạnh một tác phẩm văn học

– Cần đọc kĩ và nhận thức được khía cạnh mà đề yêu cầu.

– Tìm và phân tích những chi tiết phù hợp vói khía cạnh mà đề yêu cầu.

3. Cách làm bài văn nghị luận vê một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi

– Có đề nêu yêu cầu cụ thể, bài làm cần tập trung đáp ứng các yêu cầu đó.

– Có đề học sinh tự chọn nội dung viết, cần phải khảo sát và nhận xét toàn truyện. Sau đó chọn ra hai, ba điểm nổi bật nhất, sắp xếp theo thứ tự hợp lí để trình bày. Các phần khác nói lướt qua. Như thế bài làm sẽ nổi bật phần trọng tâm, không lan man.

II.Các bước làm bài văn nghị luận về một tác phẩm một đoạn trích văn xuôi
1.Bước 1:Phân tích đề - xác định yêu cầu của đề

+ Xác định dạng đề

+ Yêu cầu nội dung ( đối tượng )

+ Yêu cầu về phương pháp

+ Yêu cầu phạm vi tư liệu dẫn chứng

2.Bước 2:Lập dàn ý – tìm ý – sắp xếp ý: theo bố cục 3 phần

-Mở bài:

+ Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm đoạn trích văn xuôi cần nghị luận

+ Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

 

-Thân bài:

   Phân tích những giá trị nội dung nghệ thuật tác phẩm, đoạn trích để làm rõ vấn đề cần nghị luận hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của đoạn trích.

-Kết bài:

Đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích

3.Bước 3:Viết bài

+ Dựa theo dàn bài đã xây dựng viết thành bài văn hoàn chỉnh

+Chú ý viết đoạn văn phải làm nổi bật luận điểm và chứng minh bằng những luận cứ rõ ràng. Các đoạn phải có liên kết chuyển tiếp nhau.

4.Bước 4: Kiểm tra, chỉnh sửa

III.Luyện tập

Đề 1: Phân tích truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan.

a. Gợi ý tìm hiểu đề

Đặc sắc của kết cấu truyện: Truyện gồm những cảnh khác nhau tưởng như rời rạc (cảnh van xin, đút lót, thuê người đi thay, bị áp giải đi xem đá bóng), nhưng thật ra đều tập trung biểu hiện chủ đề: bọn quan lại cầm quyền cưỡng bức dân chúng để thực hiện một ý đồ bịp bợm đen tối.

Mâu thuẫn và tính chất trào phúng của truyện:

   + Việc xem đá bóng vốn mang tính chất giải trí bỗng thành một tai hoạ giáng xuống người dân.

   + Sự tận tụy, siêng năng thực thi lệnh trên của lí trưởng đã gặp phải mọi cách đối phó của người dân khốn khổ.

Đặc điểm của ngôn ngữ truyện:

   + Ngôn ngữ người kể chuyện: rất ít lời, mỗi cảnh có khoảng 2 dòng, như muốn để người đọc thiểu lấy ý nghĩa.

   + Ngôn ngữ các nhân vật: lời đối thoại rất tự nhiên, sinh động, ... thể hiện đúng thân phận và trình độ của họ. Ngôn ngữ của lí trưởng không mang kiểu cách hành chính nào cả ... . Qua ngôn ngữ các nhân vật, người đọc có thể hình dung đó là một xã hội hỗn độn.

Giá trị hiện thực và ý nghĩa phê phán của truyện: Tác giả dùng bút pháp trào phúng để châm biếm trò lừa bịp của chính quyền. Nội dung truyện không phải hoàn toàn bịa đặt. Để tách người dân khỏi ảnh hưởng của các phong trào yêu nước, thực dân Pháp đã bày ra các trò thể dục thể thao (đua xe đạp, thi bơi lội, đấu bóng đá) để đánh lạc hướng. Do đó truyện này có ý nghĩa hiện thực, có giá trị châm biếm sâu sắc.

b. Gợi ý xây dựng dàn bài

Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về truyện ngắn Tinh thần thể dục của nhà văn Nguyễn Công Hoan.

Thân bài: Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn Tinh thần thể dục: kết cấu truyện độc đáo, mâu thuẫn trong truyện nhiều dạng vẻ và ý nghĩa của cái cười trong truyện ngắn Tinh thần thể dục.

Kết bài: Qua tác phẩm, cần thấy được mối quan hệ giữa văn học và thời sự; văn học và sự thức tỉnh xã hội.



 

          

 

 

 

 



SỞ GD & ĐT TP ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG

ĐỀ 4

 




ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KÌ II

Môn Ngữ văn 11

Năm học 2019 - 2020

 

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

 

Để theo đuổi ước mơ của mình, bạn phải hành động. Nếu không, bạn sẽ mất cơ hội. Hãy chủ động hành động thay vì để cuộc đời đưa đẩy bạn. Nếu không có được những gì bạn muốn, thì hãy chủ động tạo ra những gì bạn muốn. Đấng Sáng Tạo sẽ thắp sáng con đường bạn đi. Vận may của cả đời bạn, cánh cửa của những ước mơ đang mở ra. Con đường dẫn tới mục đích sống có thể xuất hiện trước bạn bất cứ lúc nào.

Ngay cả khi đã xác lập được mục đích sống mạnh mẽ và đã phát triển được nguồn hy vọng lớn lao, niềm tin sâu sắc, lòng tự tôn, thái độ sống tích cực, lòng dũng cảm, tính kiên cường, khả năng thích nghi và những mối quan hệ tốt, bạn không thể chỉ ngồi đó và chờ đợi vận may đến với mình. Trên con đường vươn tới thành công, bạn phải nắm bắt từng cơ hội. Đôi khi bạn nhận thấy rằng trở ngại xuất hiện trên con đường của bạn không vì mục đích nào khác ngoài mục đích mở ra cơ hội để đưa bạn tới vị trí cao hơn. Nhưng bạn phải có lòng dũng cảm và sự quyết tâm để vươn lên.

Một trong những khẩu hiệu của tôi tại Tổ chức Life Without Limbs là "một ngày mới, một cơ hội mới". Không có những khẩu hiệu được đóng khung trên tường - chúng tôi cố gắng tạo ra những khẩu hiệu từ chính các hành động của mình.

(Trích Sống cho điều ý nghĩa hơn - Nick Vujicic, Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2015)

 

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. (1,0 điểm)

Câu 2. Theo tác giả, điều quan trọng nhất để biến ước mơ thành hiện thực là gì? (1,0 điểm)

Câu 3. Một trong những khẩu hiệu của Tổ chức Life Without Limbs là "một ngày mới, một cơ hội mới". Còn bạn, bạn chọn khẩu hiệu nào cho mình? Lí giải ngắn gọn sự lựa chọn đó.

(1.0 điểm)

 

 II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1: Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về câu hỏi: Bạn chuẩn bị gì cho hành trình ước mơ của mình? (2,0 điểm)

Câu 2: (5.0 điểm) Cảm nhận đoạn thơ sau:


Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim...

 

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.


(Trích “Từ ấy”- Tố Hữu - Ngữ văn lớp 11, tập 2)

 

 

 

 

 

ĐÁP ÁN THAM KHẢO   

 

Câu

Ý

Nội dung cần đạt

Điểm

I

 

Đọc – hiểu văn bản

3,0

 

 

 

 

 

 

 

1

- Phương thức biểu đạt của văn bản: Phương thức nghị luận

1,0

2

  Theo tác giả, điều quan trọng nhất để biến ước thành hiện thực : phải hành động để nắm bắt cơ hội.

1,0

3

 - Khẩu hiệu của bản thân (0.5): Hs chọn khẩu hiệu là danh ngôn, châm ngôn (có thể tự đặt ra khẩu hiệu có ý nghĩa)

- Lí giải sự lựa chọn (0.5): nêu tác dụng, ý nghĩa cụ thể của khẩu hiệu; không nói chung chung.

1,0

 

 

 

II

1

Hãy viết một đoạn văn trả lời câu hỏi: Bạn chuẩn bị gì cho hành trình ước mơ của mình? (2,0 điểm)

2,0

 

Yêu cầu về kĩ năng: biết cách viết đoạn văn; đoạn văn hoàn chỉnh chặt chẽ; diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả; đảm bảo dung lượng như yêu cầu đề.

0,25

 

 

Yêu cầu về kiến thức: 

b. Yêu cầu về kiến thức: học sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng lí lẽ và dẫn chứng phải hợp lí. Gợi ý những nội dung sau:

- Dẫn đề - giải thích: chuẩn bị những nền tảng cần thiết để thực hiện ước mơ   

- Giải quyết vấn đề:

+ Sức khỏe

+ Kiến thức

+ Kĩ năng sống

+ Niềm đam mê, ý chí, nghị lực, ……

(Hs phải nêu được ít nhất 2 yếu tố, có thể nêu cụ thể như: học ngoại ngữ, làm thêm,…)

 

1,75

 

 

 

 

2

Cảm nhận đoạn thơ trong bài thơ Từ ấy

5,0

 

 a/ Yêu cầu về kĩ năng:

- Biết cách làm bài văn nghị luận văn học.

- Kết cấu rõ ràng, chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, văn cảm xúc, gợi hình. Không mắc lỗi: chính tả, dùng từ, viết câu.

 

 

 b/ Yêu cầu về kiến thức: HS có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần đạt được một số ý sau:

-        Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích.

 

 

0,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 -  Nêu được những nét chính về nội dung của đoạn thơ

*Nội dung

- Niềm vui sướng say mê khi bắt gặp lí tưởng Đảng

+ Từ ấy: mốc thời gian quan trọng của cuộc đời nhà thơ, tháng 7 năm 1938, Tố Hữu được kết nạp vào Đảng.

+ Lí tưởng Đảng làm bừng sáng tâm hồn nhà thơ.

+ Tâm hồn nhà thơ reo vui, rộn rã khi đến với Đảng.

- Những nhận thức mới về lẽ sống

+ Gắn bó hài hòa giữa cái tôi cá nhân với cái ta chung.

+ Quan tâm đến quần chúng lao khổ; tình đoàn kết, tình hữu ái giai cấp.

- Lí tưởng Đảng và thơ ca

+ Đảng trở thành nguồn cảm hứng mới trong sáng tác của nhà thơ.

+ Nhận thức mới mẻ: văn học gắn liền với đời sống.

* Nghệ thuật

- Bút pháp tự sự + trữ tình; ẩn dụ (nắng hạ, mặt trời chân lí), so sánh (hồn tôi-vườn hoa lá), động từ mạnh (bừng, chói).

- Động từ buộc, trang trải thể hiện ý thức tự nguyện gắn bó, sẻ chia; hoán dụ trăm nơi,…

1,0

 

1,0

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

 

1,0

 

 

Đánh giá

- Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu.

0,25

 

c. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc vấn đề cần nghị luận.

0,25

 

 

 

d. Chính tả, dùng từ, đặt câu

 

 

Tổng điểm : I + II = 10 điểm

10

 

--------------------------Hết------------------------

 

 


SỞ GD & ĐT TP ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG

ĐỀ 3

 



ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KÌ II

Môn Ngữ văn 11

Năm học 2019 - 2020

 

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

 

Nếu bạn không phải là một cái cây, lý gì bạn phải ở yên một chỗ?

Nếu muốn trải nghiệm, việc bạn cần làm là phải không ngừng hành động, không ngừng đặt bản thân vào thế chủ động và thế sẵn sàng, đi những vùng đất mới, thử những cái mới, làm những điều mới, học những thứ mới, quen những người bạn mới. Phải thoát ra khỏi vùng an toàn của mình càng sớm càng tốt. Đừng nói bạn không thể vì chắc chắn bạn có thể, lý do là vì tôi biết bạn không phải một cái cây. Cái cây đứng một chỗ nhận tất cả những gì nó cần: ánh sáng, nước, chất dinh dưỡng nhưng bản thân nó vẫn luôn khao khát được vươn ra xa hơn. Thế nên rễ nó mới dài tủa đi khắp nơi, thế nên tán nó mới vươn rộng và cành không ngừng vươn cao để nhìn được những vùng đất xa lạ. Bạn may mắn hơn cái cây, bạn có thể tự dịch chuyển mình đi khắp chốn, thế thì tại sao lại không? Thoát khỏi vùng an toàn của mình là bước đầu tiên trong quá trình trải nghiệm. Mọi hành trình đều bắt đầu từ một bước chân. Ngay ngày mai, hãy thử làm những việc bạn chưa từng làm, dù nhỏ bé và đơn giản nhất thôi: hãy cười với một người lạ cùng tòa nhà, hãy đi một con đường khác tới công ty, hãy gọi một món ăn nghe tên thật lạ, hãy nghĩ một cách giải quyết khác cho công việc quen thuộc hàng ngày…

(Không có trải nghiệm, tuổi trẻ không đáng một xu- Phi Tuyết)

Câu 1: Đoạn văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? (1,0 điểm)

Câu 2: Theo tác giả, trải nghiệm là gì? (1,0 điểm)

Câu 3: Chỉ  ra các biện pháp tu từ và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó trong câu văn sau: “Ngay ngày mai, hãy thử làm những việc bạn chưa từng làm, dù nhỏ bé và đơn giản nhất thôi:hãy cười với một người lạ cùng tòa nhà, hãy đi một con đường khác tới công ty, hãy gọi một món ăn nghe tên thật lạ, hãy nghĩ một cách giải quyết khác cho công việc quen thuộc hàng ngày…” 1.0 điểm

 

II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1. Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về vai trò của sự trải nghiệm đối với tuổi trẻ. (2.0 điểm)

Câu 2. Nêu cảm nhận của anh/ chị về đoạn sau: (5.0 điểm)


“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”


(Trích Vội vàng – Xuân Diệu, SGK Ngữ văn 11 Cơ bản, tập II, NXB Giáo dục, 2007, tr.22)


 

ĐÁP ÁN THAM KHẢO


Câu

Ý

Nội dung cần đạt

Điểm

I

 

Đọc – hiểu văn bản

3,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

Phong cách ngôn ngữ chính luận

1,0

2

 Theo tác giả, trải nghiệm là:

+  Phải không ngừng hành động, không ngừng đặt bản thân vào thế chủ động và thế sẵn sàng, đi những vùng đất mới, thử những cái mới, làm những điều mới, học những thứ mới, quen những người bạn mới

- Phải thoát ra khỏi vùng an toàn của mình càng sớm càng tốt

1,0

3

-Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn là:

+ Điệp từ “ hãy”/  Điệp cấu trúc: “hãy cười….” “hãy gọi….” “hãy đi….” “hãy nghĩ…”

+ Liệt kê

-Tác dụng:

+ Nhấn mạnh tầm quan trọng, sự cần thiết của việc nhanh chóng trải nghiệm đối với mỗi người dù đó chỉ là điều nhỏ bé.

+ Tạo nhịp điệu nhanh, dồn dập;  Lời giục giã , hối thúc mỗi người hãy nhanh chóng trải nghiệm

1,0

 

 

 

II

1

Viết một đoạn văn ngắn nêu suy nghĩ của anh/ chị về hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ trong cuộc chiến thời bình – cuộc chiến chống Covid 19

2,0

 

Yêu cầu về kĩ năng: biết cách viết đoạn văn; đoạn văn hoàn chỉnh chặt chẽ; diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả; đảm bảo dung lượng như yêu cầu đề.

0,25

 

 

* Giải thích:

- Trải nghiệm là gì?

* Bình luận:

- Nêu biểu hiện:

+ Tham gia một câu lạc bộ, tham gia những hoạt động xã hội, thử sức ở một bộ môn thể thao …. đó là trải nghiệm. Thử học những điều mới, làm quen bạn bè mới… đó là trải nghiệm.

- Vai trò của trải nghiệm:

+ Cuộc sống, thực chất là một cuộc trải nghiệm lớn. Khi tâm niệm cuộc đời chỉ là cuộc trải nghiệm, bạn sẽ không quá áp lực nên mọi sự lựa chọn của mình trong cuộc đời.

+ Người trải nghiệm nhiều sẽ có cái nhìn về đời, về cuộc sống toàn diện và sâu sắc hơn.

+ Chỉ qua những trải nghiệm, con người ta mới tích lũy thêm đựơc nhiều kinh nghiệm

+ Chỉ qua những trải nghiệm ta mới định nghĩa được bản thân một cách chính xác, sâu sắc và rõ nét. được sống là chính mình

+ Càng trải nghiệm nhiều bao nhiêu bạn lại càng thu lượm được nhiều ý tưởng và cơ hội bấy nhiêu .

Người sống nhiều nhất không phải người sống lâu năm nhất mà là người có nhiều trải nghiệm phong phú nhất.” (Jacques Rousseau )

- Dẫn chứng: Học sinh tự lưạ chọn dẫn chứng phù hợp

- Phản đề: Phê phán những người sống quá an toàn, bình lặng; những kẻ lười biếng, ù lì và  luôn sợ hãi... không dám trải nghiệm cuộc sống.

- Bài học và liên hệ bản thân:

+ Nhận thức được giá trị của trải nghiệm đối với bản thân

+ Hành động: Không chỉ nói mà làm, không chỉ suy nghĩ mà phải sẵn sàng trải nghiệm bằng hành động để biến mỗi phút giây cuộc đời trở nên có ý nghĩa

+ Liên hệ bản thân

1,75

 

 

 

 

2

Cảm nhận đoạn thơ trong bài thơ Vội vàng

5,0

 

 a/ Yêu cầu về kĩ năng:

- Biết cách làm bài văn nghị luận văn học.

- Kết cấu rõ ràng, chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, văn cảm xúc, gợi hình. Không mắc lỗi: chính tả, dùng từ, viết câu.

 

 

 b/ Yêu cầu về kiến thức: HS có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần đạt được một số ý sau:

-        Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích.

 

 

0,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 -  Nêu được những nét chính về nội dung của đoạn thơ

 Xuân Diệu đã phát hiện ra thiên đường ngay trên mặt đất, không xa lạ mà rất đỗi quen thuộc ngay trong tầm tay của chúng ta

- Hình ảnh đẹp đẽ, tươi non, trẻ trung

- Thiên nhiên có đôi, có cặp, giao hòa, tình tứ  

-  Đó là bức tranh thiên nhiên mùa xuân rực rỡ sắc màu, niềm vui và sức sống, được thể hiện qua hàng loạt các hình ảnh : ong bướm, hoa lá, yến anh, tuần tháng mật…

  +) Màu sắc: màu xanh rì của đồng nội, màu của lá non, màu của cành tơ phơ phất…=>Gợi hình ảnh non tơ, mơn mởn.

 +) Âm thanh: khúc tình si của yến anh

- Nhịp thơ nhanh, gấp biểu hiện hơi thở sống, nhịp điệu sống.

- Đảo ngữ: “của ong bướm”

- Điệp từ: “Này đây”

-Phép liệt kê.

    ->Diễn tả tâm trạng vui sướng, say mê làm cho cảnh mùa xuân thêm rực rỡ, tươi thắm. Tất cả như được bày sẵn, mời gọi chúng ta thưởng thức một bữa tiệc trần gian.

- Bức tranh thiên nhiên ấy còn được vẽ lên với vẻ xuân tình: mối quan hệ của thiên nhiên, cảnh vật được hình dung trong quan hệ như với người yêu, người đang yêu, như tình yêu đôi lứa trẻ tuổi, say đắm. Các cặp hình ảnh sóng đôi như ong bướm, yến anh càng làm bức tranh thiên nhiên thêm tình ý.

=> Xuân Diệu đã khơi dậy vẻ tinh khôi, gợi hình của sự vật, nhà thơ không nhìn sự vật ấy bằng cái nhìn thưởng thức mà bằng cái nhìn luyến ái, khát khao chiếm hữu.

- Câu thơ “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

->  So sánh mới mẻ, độc đáo và táo bạo. Gợi cảm giác liên tưởng, tưởng tượng rất mạnh về tình yêu đôi lứa, hạnh phúc tuổi trẻ.

“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân” 

 ->Câu thơ bản lề khép mở 2 tâm trạng của câu trước và câu sau.

à Với Xuân Diệu cuộc sống là vui và mùa xuân là đẹp nhất.

* Tâm trạng của nhà thơ

-  Niềm sung sướng hân hoan, vui say ngây ngất trước vẻ đẹp của cuộc sống trần gian.

- Tâm trạng vội vàng, nuối tiếc thời gian, nuối tiếc mùa xuân ngay cả khi sống giữa mùa xuân.

Về nghệ thuật

-  Mới mẻ trong cách nhìn, cách cảm nhận cuộc sống; quan niệm thẩm mĩ hiện đại; phép điệp, liệt kê, so sánh, chuyển đổi cảm giác.

- Cấu trúc dòng thơ hiện đại.

1,0

 

 

 

0,5

 

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

 

 

 

 

0,25

 

 

 

 

0,25

 

Đánh giá

- Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Diệu.

- Tình yêu đời của Xuân Diệu đem đến quan niệm nhân sinh tích cực.

0,25

 

c. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc vấn đề cần nghị luận.

0,25

 

 

 

d. Chính tả, dùng từ, đặt câu

 

 

Tổng điểm : I + II = 10 điểm

10

 

--------------------------Hết------------------------

 


 SỞ GD & ĐT TP ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG

ĐỀ 2



ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KÌ II

Môn Ngữ văn 11

Năm học 2019 - 2020

 

 

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Đôi khi cuộc sống dường như muốn cố tình đánh ngã bạn. Nhưng hãy đừng mất lòng tin. Tôi biết chắc chắn rằng, điều duy nhất đã giúp tôi tiếp tục bước đi chính là tình yêu của tôi dành cho những gì tôi đã làm. Các bạn phải tìm ra được cái các bạn yêu quý. Điều đó luôn đúng cho công việc và cho cả những người thân yêu của bạn. Công việc sẽ chiếm phần lớn cuộc đời bạn và cách duy nhất để thành công một cách thực sự là hãy làm những việc mà bạn tin rằng đó là những việc tuyệt vời. Và cách để tạo ra những công việc tuyệt vời là bạn hãy yêu việc mình làm. Nếu như các bạn chưa tìm thấy nó, hãy tiếp tục tìm kiếm. Đừng bỏ cuộc bởi vì bằng trái tim bạn, bạn sẽ biết khi bạn tìm thấy nó. Và cũng sẽ giống như bất kì một mối quan hệ nào, nó sẽ trở nên tốt dần lên khi năm tháng qua đi. Vì vậy hấy cố gắng tìm kiểm cho đến khi nào bạn tìm ra được tình yêu của mình, đừng từ bỏ.

 (Trích Steve Jobs với những phát ngôn đáng nhớ, theo http://www.vnexpress.net, ngày 26/8/2011)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt và biện pháp tu từ của đoạn văn trên. (1.0 điểm)

Câu 2. Anh/ Chị hiểu thế nào về câu: Đôi khi cuộc sống dường như muốn cố tình đánh ngã bạn? (1.0 điểm)

Câu 3. Nêu thông điệp mà đoạn văn gửi đến người đọc. (1.0 điểm)

II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1. Viết một đoạn văn ngắn ( khoảng 200 chữ ) nêu suy nghĩ của anh/ chị về vẻ đẹp của những thiên thần áo trắng trong đại dịch chống Covid 19 (2.0 điểm)

Câu 2. Nêu cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau :


“ Sao anh không về chơi thôn Vỹ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ  điền.

 

Gió theo lối gió,  mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”


 


( Trích “Đây thôn Vỹ Dạ” - Hàn Mặc Tử) – SGK lớp 11- NXB Giáo dục 2007)

 

 

 

 

 

 

ĐÁP ÁN THAM KHẢO

 

Câu

Ý

Nội dung cần đạt

Điểm

I

 

Đọc – hiểu văn bản

3,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

- Phương thức biểu đạt của văn bản: Phương thức nghị luận

1,0

2

 HS trình bày cách hiểu của mình một cách hợp lí, thuyết phục. Tham khảo các cách trả lời sau

– Câu nói cho thấy trong cuộc sống, đôi khi chúng ta đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn thất bại.

– Hay là đôi khi có những khó khăn khách quan bất ngờ xảy ra khiến chúng ta thất bại.

1,0

3

HS trình bày hợp lí, thuyết phục về thông điệp của đoạn trích có ý nghĩa nhất đối với mình. Tham khảo một số thông điệp sau:

– Phải luôn có lòng tin vào những việc mình làm.

– Phải yêu quý những công việc mình làm.

– Không được bỏ cuộc khi thất bại.

– Hãy kiên trì và cố gắng liên tục

1,0

 

II

1

Viết một đoạn văn ngắn nêu suy nghĩ của anh/ chị về vẻ đẹp của những thiên thần áo trắng trong đại dịch chống Covid 19

2,0

 

Yêu cầu về kĩ năng: biết cách viết đoạn văn; đoạn văn hoàn chỉnh chặt chẽ; diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả; đảm bảo dung lượng như yêu cầu đề.

 

0,25

 

 

Yêu cầu về kiến thức: 

 * Giải thích khái niệm Covid - 19:

+ Covid – 19 là một bệnh dịch do virut corona gây ra

+ Đây là loại virut mới chưa từng được phát hiện trước đó, lây truyền từ người sang người qua giọt dịch hô hấp mà con người ho, hắt hơi hoặc thở ra và gây căn bệnh viêm phổi quái ác, suy hô hấp cấp tính

* Hiện trạng:

+ Được phát hiện lần đầu tiên tạ Vũ Hán (Trung Quốc) và trở thành đại dịch lan ra toàn thế giới gây sự hoang mang, lo lắng cho mọi người.

+ Ở Việt Nam, tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát tốt.

* Suy nghĩ về hình ảnh những y bác sĩ đang ngày đêm gồng mình chống dịch

+ Vai trò của các bác sĩ trong công tác đẩy lùi dịch bệnh, giành lấy sự sống cho con người là rất quan trọng, phản ánh sự nỗ lực hết mình của các y bác sĩ…

 + Trong cuộc chiến ấy, các y bác sĩ đã không quản ngại khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Họ không sợ hãi trước lưỡi hái của tử thần…

+ Những gương mặt trắng bệch, những mái tóc bù xù, những đôi mắt trũng sâu, những cái gục đầu tạm trên ghế…khiến chúng ta không khỏi xót xa.

+ Họ nhớ nhà, nhớ gia đình nhưng không về thăm được,…

à Tất cả những hi sinh thầm lặng ấy khiến ta thật ngưỡng mộ và tự hào…

* Bài học:

+ Xác định được mục tiêu sống tốt đẹp của bản thân để những hi sinh ấy không thành vô nghĩa.

+ Thực hiện hành động bằng những việc làm thiết thực để chung tay đẩy lùi dịch bệnh.

1,75

 

 

 

 

2

Phân tích 2 khổ thơ đầu của bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ

5,0

 

a/ Yêu cầu về kĩ năng:

- Biết cách làm bài văn nghị luận văn học.

- Kết cấu rõ ràng, chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, văn cảm xúc, gợi hình. Không mắc lỗi: chính tả, dùng từ, viết câu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b/ Yêu cầu về kiến thức: HS có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần đạt được một số ý sau:

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, cảm hứng chủ đạo của Hàn Mặc Tử khi viết bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ”

- Nêu được những nét chính ND đoạn thơ: Là bức tranh vẽ bằng tâm tưởng về cảnh và con người xứ Huế để làm sống dậy những kỷ niệm về 1 mối tình, làm quặn thắt nỗi đau của 1 cuộc đời bất hạnh

- Phân tích được bức tranh phong cảnh và con người xứ Huế  trong khổ thơ thứ nhất

+ Cảnh ấm áp, rực rỡ, tinh khiết của buổi sớm mai trong trẻo, gợi cảm nhưng mơ hồ, hư ảo, không dễ nắm bắt.

* Câu thơ 1:

  - Hình thức: câu hỏi tu từ mang nhiều sắc thái.

  - Nội dung: hỏi, nhắc nhở, lời trách móc nhẹ nhàng, lời mời mọc ân cần tha thiết.

à Tự phân thân, tự giãi bày tâm trạng: nuối tiếc, nhớ mong.

*3 câu thơ sau: Bức tranh thôn Vĩ:

 - Hình ảnh thiên nhiên: Nắng hàng cau - Nắng mới.

   + Nắng hàng cau: hình ảnh đặc trưng của thôn Vĩ.

   + Nắng mới: ánh nắng ban mai tinh khiết trong lành chiếu lên những hàng cau còn ướt đẫm sương đêm.

à Nắng có linh hồn riêng. Nắng mang hồn xứ Huế.

nắng (2 lần):  khiến câu thơ tràn ngập ánh sáng.

à Thiên nhiên:  sống động rạng ngời, gợi cảm giác khoẻ khoắn, ấm áp.

  + Đại từ phiếm chỉ “ai” - không xác định

 à  gợi cảm giác ám ảnh, thương nhớ.

   +  Hình ảnh so sánh “xanh như ngọc”.

à Khu vườn mượt mà, óng ả, mướt mát đầy xuân sắc, gợi cảm, đầy sức sống

- Người thôn Vĩ:

   +  Hình ảnh tượng trưng: “Mặt chữ điền

   + “Lá trúc che ngang”

-> Vẻ đẹp tâm hồn người con gái Huế: kín đáo, dịu dàng, e ấp, phúc hậu.

+ Con người xuất hiện trong vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng, hồn hậu của người Huế, tâm hồn Huế.

-> Gợi về khát khao mong mỏi, nỗi niềm trắc ẩn của nhà thơ về nhưng kỷ niệm nao lòng về  thơ, về tình yêu, về cuộc đời

+ Nghệ thuật dùng câu, dùng từ đặc sắc càng làm tôn vẻ đẹp của cảnh và ngưới xứ Huế

 - Phân tích rõ Cảnh hoàng hôn thôn Vĩ và niềm đau cô lẻ, chia lìa trong khổ thơ thứ 2

+ Cảnh: chia lìa, hắt hiu làm quặn thắt nỗi buồn đau và thất vọng của nhà thơ vì bệnh tật

*2 câu thơ đầu:

   “Gió theo lối gió - mây đường mây”

à Cái ngược đường của gió, mây gợi sự chia ly đôi ngả -> nỗi đau thân phận xa cách, chia lìa.

 “Dòng nước buồn thiu-hoa bắp lay”

Sử dụng biện pháp nghệ thuật: Nhân hóa ->Gợi ra một khung cảnh chia lìa, buồn hiu hắt.

+ Không đến được với Huế bằng hình hài, nhà thơ thả mình theo trăng để mộng ước để trông chờ, khắc khoải ước mong về tình yêu, hạnh phúc nhưng vẫn là ảo vọng, hoài nghi bởi nhà thơ đang phải đối mặt với những giây phút cuối cùng của cuộc đời.

  Thuyền, bến, trăng: hình ảnh tượng trưng

+ Càng đau đớn, khắc khoải nhà thơ lại càng khát khao tìm gặp được tri âm, hy vọng được gắn bó với cuộc đời

  Câu hỏi tu từ ẩn chứa một nỗi mong chờ tha thiết, đồng thời cũng chứa đầy nỗi phấp phỏng hoài nghi.

+ Phân tích được những hình ảnh thực, ảo và cách dùng từ độc đáo khơi sâu nỗi đau đang chà xát tâm hồn nhà thơ .

-  Tóm lược ND đã phân tích, có liên hệ thực tế

 

 

0,5

 

1,0

 

 

 

1,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,5

 

Đánh giá

- Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Hàn Mặc Tử.

 

0,25

 

c. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc vấn đề cần nghị luận.

0,25

 

 

 

d. Chính tả, dùng từ, đặt câu

 

 

Tổng điểm : I + II = 10 điểm

10

 





 SỞ GD & ĐT TP ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG

ĐỀ 1

 




ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KÌ II

Môn Ngữ văn 11

Năm học 2019 - 2020

 

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Mất hàng triệu năm mới định hình những nếp nhăn ngôn ngữ trong não bộ, khó khăn lắm con người mới có tiếng nói. Không có tiếng nước bạn dở, tiếng nước tôi hay. Không có tiếng làng tôi nhẹ nhàng, làng bạn nặng trịch. Ý thức kì thị đó có thể lưu giữ được "bản sắc" văn hóa làng xã nhưng nghèo tính tiến hóa biết bao. Tiếng nói của nước nào cũng đáng kính trọng, bởi tiếng nói suy cho cùng là di sản từ tổ tiên loài người sinh học có chung một nguồn cội, chung một cây tiến hóa. Một loại di sản đặc biệt. Bởi nó không chỉ nằm trong kí ức mà nối dài trong hiện tại và bắc cầu đến tương lai. Người ta thường dùng di sản vào những mục đích tốt đẹp. Tiếng nói cũng vậy. Xin em đừng lộng ngữ tà ngôn. Biết dành những lời yêu thương cho cha mẹ. Dành những lời tốt đẹp, trung thực cho bạn bè. Tuổi hoa chỉ nói những lời "hoa cười, ngọc thốt đoan trang".

Và muôn đời, lời nói thành thực vẫn là lời hay nhất. Bởi mất đi sự chân thực, mất đi trách nhiệm trong lời nói, con người sẽ tuột dốc lỗi lầm.

           (Trích Lắng nghe lời thì thầm của trái tim, Nhiều tác giả, NXB Văn hóa – Văn nghệ TP. HCM, 2015, tr.33)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính và biện pháp tu từ của đoạn văn trên. (1.0 điểm)

Câu 2. Anh/chị hiểu thế nào về ý kiến cho rằng tiếng nói là: "Một loại di sản đặc biệt. Bởi nó không chỉ nằm trong kí ức mà nối dài trong hiện tại và bắc cầu đến tương lai."? (1.0 điểm)

Câu 3. Nêu thông điệp mà đoạn văn gửi đến người đọc. (1.0 điểm)

II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1. Viết một đoạn văn ngắn ( khoảng 200 chữ ) nêu suy nghĩ của anh/ chị về hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ trong cuộc chiến thời bình – cuộc chiến chống Covid 19 (2.0 điểm)

Câu 2. Nêu cảm nhận của anh/ chị về đoạn sau: (5.0 điểm)

…“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”

(Trích Vội vàng – Xuân Diệu, SGK Ngữ văn 11 Cơ bản, tập II, NXB Giáo dục, 2007, tr.22)

 

 

 

 

 

 

 

ĐÁP ÁN THAM KHẢO

Câu

Ý

Nội dung cần đạt

Điểm

 

I

 

Đọc – hiểu văn bản

3,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

- Phương thức biểu đạt của văn bản: Phương thức nghị luận

1,0

 

2

 Tiếng nói là Một loại di sản đặc biệt. Bởi nó không chỉ nằm trong kí ức mà nối dài trong hiện tại và bắc cầu đến tương lai:

- Tiếng nói là tài sản văn hóa tinh thần thế hệ cha ông trong quá khứ đã tạo dựng và để lại.

- Tiếng nói nằm trong kí ức: Tiếng nói đã được bao thế hệ trong quá khứ sử dụng.

- Nối dài trong hiện tại: Thế hệ hiện tại sử dụng tiếng nói tức là thừa hưởng, phát huy và sáng tạo di sản của cha ông.

- Bắc cầu đến tương lai: Thế hệ hiện tại sử dụng tiếng nói còn là cách để gìn giữ, lưu truyền cho con cháu mai sau.

1,0

 

3

- Trân trọng tiếng nói của dân tộc mình và tất cả tiếng nói của dân tộc khác.

- Biết nói những lời tốt đẹp, những lời yêu thương, những lời thành thực và tránh xa lộng ngữ, tà ngôn.

1,0

 

 

 

 

II

1

Viết một đoạn văn ngắn nêu suy nghĩ của anh/ chị về hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ trong cuộc chiến thời bình – cuộc chiến chống Covid 19

2,0

 

 

Yêu cầu về kĩ năng: biết cách viết đoạn văn; đoạn văn hoàn chỉnh chặt chẽ; diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả; đảm bảo dung lượng như yêu cầu đề.

0,25

 

 

 

Yêu cầu về kiến thức: 

* Giải thích khái niệm Covid - 19:

+ Covid – 19 là một bệnh dịch do virut corona gây ra

+ Đây là loại virut mới chưa từng được phát hiện trước đó, lây truyền từ người sang người qua giọt dịch hô hấp mà con người ho, hắt hơi hoặc thở ra và gây căn bệnh viêm phổi quái ác, suy hô hấp cấp tính

* Hiện trạng:

+ Được phát hiện lần đầu tiên tạ Vũ Hán (Trung Quốc) và trở thành đại dịch lan ra toàn thế giới gây sự hoang mang, lo lắng cho mọi người.

+ Ở Việt Nam, tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát tốt.

* Suy nghĩ về hình ảnh lực lượng bộ đội trong cuộc chiến chống dịch

+ “Chống dịch như chống giặc” là hiệu lệnh của toàn Đảng, toàn dân ta ngay khi dịch bệnh mới bắt đầu lăm le

+ Trong nhiệm vụ mới của thời bình, những anh bộ đội cụ Hồ lại đóng vai trò tiên phong, nòng cốt trong công cuộc chiến đấu chống “kẻ thù vô hình” vô cùng nguy hiểm

+ Các chiến sĩ trong quân đội, công an đã phối hợp cùng các y bác sĩ để đẩy lùi dịch bệnh. Họ tham gia các công tác kiểm tra sức khỏe tại những vùng có người mắc bệnh, rà soát những người ra vào vùng dịch giúp cho công tác điều tra nguồn lây lan diễn ra nhanh chóng và thuận lợi…

+ Những giọt mồ hôi chảy ròng trên má, những manh chiếu mỏng tạm bợ được lót dưới sàn nhà- nơi các anh nghỉ lưng, những giấc ngủ hiếm hoi trên sân gạch… khiến chúng ta không khỏi xót xa…nhưng các anh vẫn lạc quan, kiên trì.

* Bài học:

+ Xác định được mục tiêu sống tốt đẹp của bản thân để những hi sinh ấy không thành vô nghĩa.

+ Thực hiện hành động bằng những việc làm thiết thực để chung tay đẩy lùi dịch bệnh.

1,75

 

 

 

 

 

2

Cảm nhận đoạn thơ trong bài thơ Vội vàng

5,0

 

 

 a/ Yêu cầu về kĩ năng:

- Biết cách làm bài văn nghị luận văn học.

- Kết cấu rõ ràng, chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, văn cảm xúc, gợi hình. Không mắc lỗi: chính tả, dùng từ, viết câu.

 

 

 

 b/ Yêu cầu về kiến thức: HS có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần đạt được một số ý sau:

Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích.

 

 

0,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 -  Nêu được những nét chính về nội dung của đoạn thơ

 Xuân Diệu đã phát hiện ra thiên đường ngay trên mặt đất, không xa lạ mà rất đỗi quen thuộc ngay trong tầm tay của chúng ta

- Hình ảnh đẹp đẽ, tươi non, trẻ trung

- Thiên nhiên có đôi, có cặp, giao hòa, tình tứ 

-  Đó là bức tranh thiên nhiên mùa xuân rực rỡ sắc màu, niềm vui và sức sống, được thể hiện qua hàng loạt các hình ảnh : ong bướm, hoa lá, yến anh, tuần tháng mật…

  +) Màu sắc: màu xanh rì của đồng nội, màu của lá non, màu của cành tơ phơ phất…=>Gợi hình ảnh non tơ, mơn mởn.

 +) Âm thanh: khúc tình si của yến anh

- Nhịp thơ nhanh, gấp biểu hiện hơi thở sống, nhịp điệu sống.

- Đảo ngữ: “của ong bướm”

- Điệp từ: “Này đây”

-Phép liệt kê.

    ->Diễn tả tâm trạng vui sướng, say mê làm cho cảnh mùa xuân thêm rực rỡ, tươi thắm. Tất cả như được bày sẵn, mời gọi chúng ta thưởng thức một bữa tiệc trần gian.

- Bức tranh thiên nhiên ấy còn được vẽ lên với vẻ xuân tình: mối quan hệ của thiên nhiên, cảnh vật được hình dung trong quan hệ như với người yêu, người đang yêu, như tình yêu đôi lứa trẻ tuổi, say đắm. Các cặp hình ảnh sóng đôi như ong bướm, yến anh càng làm bức tranh thiên nhiên thêm tình ý.

=> Xuân Diệu đã khơi dậy vẻ tinh khôi, gợi hình của sự vật, nhà thơ không nhìn sự vật ấy bằng cái nhìn thưởng thức mà bằng cái nhìn luyến ái, khát khao chiếm hữu.

- Câu thơ “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

->  So sánh mới mẻ, độc đáo và táo bạo. Gợi cảm giác liên tưởng, tưởng tượng rất mạnh về tình yêu đôi lứa, hạnh phúc tuổi trẻ.

“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân” 

 ->Câu thơ bản lề khép mở 2 tâm trạng của câu trước và câu sau.

à Với Xuân Diệu cuộc sống là vui và mùa xuân là đẹp nhất.

* Tâm trạng của nhà thơ

-  Niềm sung sướng hân hoan, vui say ngây ngất trước vẻ đẹp của cuộc sống trần gian.

- Tâm trạng vội vàng, nuối tiếc thời gian, nuối tiếc mùa xuân ngay cả khi sống giữa mùa xuân.

Về nghệ thuật

-  Mới mẻ trong cách nhìn, cách cảm nhận cuộc sống; quan niệm thẩm mĩ hiện đại; phép điệp, liệt kê, so sánh, chuyển đổi cảm giác.

- Cấu trúc dòng thơ hiện đại.

1,0

 

 

 

0,5

 

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

 

 

 

 

0,25

 

 

 

 

0,25

 

 

Đánh giá

- Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Diệu.

- Tình yêu đời của Xuân Diệu đem đến quan niệm nhân sinh tích cực.

0,25

 

 

c. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc vấn đề cần nghị luận.

0,25

 

 

 

 

d. Chính tả, dùng từ, đặt câu

 

 

 

Tổng điểm : I + II = 10 điểm

10

 

 





  Sở GD và ĐT tp Đà Nẵng

Trường THPT Quang Trung

 

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KÌ II

MÔN: NGỮ VĂN 10 Năm học 2019-2010

 

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP SỐ 1:

 

  Phần I: Đọc – hiểu (3,0 điểm)

 Đọc đoạn thơ và trả lời những câu hỏi sau:

                                                  Những mùa quả mẹ tôi hái được

                      Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng

                                                  Những mùa quả lặn rồi lại mọc

                                                  Như mặt trời khi như mặt trăng.

                           

                                                  Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

                                                  Còn những bí và bầu thì lớn xuống

                                                  Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

                                                  Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi

                  ( Mẹ và quả - Thơ Việt Nam 1945-1985, NXB Văn học, Hà Nội, 1985)

1. Anh/chị hãy xác định phong cách ngôn ngữ mà đoạn thơ trên sử dụng?(1đ)

2. Hãy nêu một biện pháp tu từ mà đoạn thơ trên sử dụng? Hãy làm rõ biện pháp tu từ vừa tìm được bằng những dẫn chứng cụ thể? (1,đ).

3. Anh/chị hãy cho biết nội dung chính của đoạn thơ .(1đ)

 

Phần II: Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1(2đ)

Anh/chị hãy viết bài văn ngắn (khoảng15 đến 30 dòng) trình bày suy nghĩ của mình về ý thức, trách nhiệm cộng đồng của mỗi cá nhân trong cuộc chiến chống dịch Covid-19 vừa qua ở Việt Nam.

 

Câu 2(5đ) Đọc đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:

                                         

‘Cậy em em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

          Giữa đường đứt gánh tương tư,

      Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

  Kể từ khi gặp chằng Kim,

        Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.

                                               Sự đâu sóng gió bất kì,

Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

Ngày xuân em hãy còn dài

Xót tình máu mủ thay lời nước non

Chị dù thịt nát xương mòn

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây’

    ( Trao Duyên trích Truyện Kiều-Nguyễn Du, sgk ngữ văn 10 tập II, trang 104)

 

 

HƯỚNG DẪN CHẤM

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I.Đọc-hiểu

1.

 - Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

 

1

 

2.

- Đoạn thơ trên sử dụng biện pháp tu từ: phép điệp, phép so sánh, nhân hóa, hoán dụ

- Chứng minh:

+ Phép điệp: ‘những mùa quả(c1) điệp với ‘những mùa quả’(c3)

+ So sánh: Những mùa quả lặn-mọc như mặt trời-mặt trăng

+ Nhân hóa: mùa quả- lặn(động từ diễn tả hoạt động của con người

+ Hoán dụ: lớn lên từ tay mẹ( bàn tay: mượn bộ phận để nói toàn thể)

0,25

 

0,75

 

3.

-Nội dung: Mượn hình ảnh ‘những mùa quả’ để nói lên công lao của người mẹ đối với con cái. Con thì càng ngày càng khôn lớn còn mẹ thì giống như bí, bầu càng ngày càng ‘lớn xuống”. Qua đó gợi lên trong lòng người đọc bao suy nghĩ về sự hi sinh của mẹ và lòng biết ơn của con cái đối với ba mẹ.

1

II. Làm văn

1.

Nghị luận

a. Triển khai các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

 Học sinh có thể sắp xếp các luận điểm theo nhiều cách nhưng về cơ bản, cần đảm bảo những yêu cầu sau:

 Mở bài: Giới thiệu, dẫn dắt vấn đề.

 

Thân bài: Triển khai các luận điểm, luận cứ để làm rõ vấn đề.

*Hiện trạng

- Khái quát tình hình chung của đại dịch covid (hai, ba dòng)

- Việt Nam là một trong những quốc gia có tỉ lệ nhiễm bệnh covid thấp nhất. Thật đáng tự hào về điều đó! Vậy nhờ đâu?

* Nguyên nhân:

- Cộng đồng chung tay đẩy lùi covid:

+ Mọi người tích cực phòng chống như thế nào?

++ Đảng và Nhà nước

++ Các cán bộ nhân viên y tế

++ Người dân

* Kết quả:

- Tinh thần, ý thức, trách nhiệm cao nên Việt Nam đã đứng vững trước cơn bão của đại dịch.

- Tính mạng người dân được an toàn

- Kinh tế, giáo dục nhanh chóng ổn định sau dịch

- Làm rạng ngời non sông Việt Nam với bạn bè quốc tế.

* Lật đề:

  - Một số trường hợp đáng lên án khi không tự ý thức, trách nhiệm:

+  Không khai báo tình trạng sức khỏe và không khai báo đi từ vùng tâm dịch về để khiến cả nước “lo ngại”

( Dẫn chứng những trường hợp “lây lan” cho cộng đồng)

+ Thương nhân: Tăng giá khẩu trang

+ Người dân tích trữ khẩu trang và lương thực với số lượng quá nhiều.

+ Lợi dụng thời cơ để đăng bài bôi xấu Đảng và Nhà nước gây hoang man cho người dân.

* Giải pháp:

- Cần nâng cao ý thức cá nhân và trách nhiệm cộng đồng.

- Mỗi người dân là một chiến sĩ trên mặt trận xã hội mới-hiện đại, phát triển và văn minh.

- Học sinh là mầm xanh của Đất nước nên cần ý thức, trách nhiệm với cộng đồng ngay từ khi ngồi trên ghế  nhà trường.

Kết Bài: Khẳng định một lần nữa về vấn đề đang nghị luận

Xã hội có phát triển và văn minh tiến bộ hay không suy cho cùng cũng nhờ vào ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với bản thân và cộng đồng.

 

 

 

 

0,5

 

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

II.Làm văn

2. Phân tích thơ

a. Triển khai các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

 Học sinh có thể sắp xếp các luận điểm theo nhiều cách nhưng về cơ bản, cần đảm bảo những yêu cầu sau:

 Mở bài:

- Dẫn dắt vào vấn đề (Giới thiệu tác giả, đoạn trích Trao duyên)

- Có thể mở bài theo cách sáng tạo riêng

 

Thân bài:

-Khái quát nội dung, ý nghĩa của đoạn trích, rồi bắt đầu đi phân tích:

*. Hai câu thơ đầu: Những lời yêu cầu và hành động khẩn thiết của Thúy Kiều khi nhờ Thúy Vân.

-Lời lẽ: + Cậy: nhờ, tin tưởng

             + Chịu: mang tính ràng buộc, nài ép, khó từ chối

-> Lời lẽ trang nghiêm đầy khéo léo và phù hợp->Tạo không khí căng thẳng, nghiêm túc, có phần nặng nề.

-Hành động: + Lạy

                     + Thưa

-> Thái độ kính cẩn, biết ơn-> không khí thiêng liêng...

=> Hành động thể hiện nghịch lí, trái đạo lí luân thường (chị đi lạy, thưa em), chứng tỏ sự việc rất quan trọng, cần giúp đỡ-> mở ra một tình huống có tính chất nghiêm trọng.

*. Sáu câu thơ tiếp theo: Kể lại sự tình và thể hiện mong ước của Thúy Kiều

* Mong ước của Kiều: câu 3,4

- Vì ‘giữa đường đứt gánh tương tư”: không se duyên trọn vẹn với Kim Trọng, đó là một sự đau đớn của Kiều, nên bây giờ chỉ mong Vân xoa dịu nổi đau ấy phần nào bằng cách ‘chắp mối tơ thừa”

* Để trải lòng và nhằm thuyết phục em gái nên K đã kể lại sự tình của mình: (4 câu tiếp)

- Kiều nhắc đến hai biến cố của đời mình:

+ Gặp chàng Kim (tình yêu đẹp ‘quạt ước’, ‘chén thề’,)

+ Sóng gió bất kì ( gia đình K bị vu oan, K bán thân chuộc cha)

-> Chữ hiếu chữ tình bẻ đôi-> Kiều rơi vào tình huống oái ăm và đã phải hi sinh chữ tình để giữ lấy chữ hiếu-trọn đạo làm con.

=>Tình huống này vô tình đưa Vân vào tình thế không thể từ chối: giúp Kiều cũng là một phần trách nhiệm của Vân

( vì Kiều hi sinh vì gia đình thì Vân cũng có thể hi sinh vì chị gái)

 

* Bốn câu cuối: Để hoàn toàn thuyết phục được Vân, Kiều đã đưa ra những lí do xác đáng:

-        Lí do 1: ‘Ngày xuân còn dài’: tuổi trẻ, đời còn dài

-        Lí do 2: ‘Xót tình máu mủ’: nể tình chị em ruột thịt

-        Lí do 3: Dù “thịt nát xương mòn”, “chín suối” - thơm lây: Dù chết, Kiều cũng sẽ mãn nguyện nếu được Vân giúp.

=> Kiều vừa dùng lí vừa dùng tình để thuyết phục em gái, kết hợp với sự tinh tế, sắc sảo, khôn khéo Kiều đã đưa Vân vào tình thế khó từ chối lời đề nghị-> đầy thuyết phục.

 

Kết bài:

Nêu khái quát lại giá trị nội dung, nghệ thuật và đưa ra suy nghĩ của mình về đoạn trích.

 

 

0,25

 

 

 

0,5

 

 

 

 

3đ gồm:

 

 

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

b. Sáng tạo: có cách diễn đạt độc đáo; suy nghĩ, kiến giải mới mẻ về nội dung hoặc nghệ thuật.

0,5

 

 

c. Chính tả, dùng từ đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp của câu, ngữ nghĩa tiếng Việt.

0,25

Tổng điểm

I+II

 

10.0đ

 

 

                                                                   *Lưu ý chung:

1. Do đặc trưng của môn Ngữ văn, bài làm của thí sinh cần được đánh giá tổng quát, tránh đếm ý cho điểm..

2. Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu ở mỗi câu, đồng thời phải chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc.

3. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo. Bài viết có thể không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án, nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục.

4. Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng hoặc thân đoạn ở câu 5 phần làm văn.

5. Cần trừ điểm đối với những lỗi về hành văn, ngữ pháp và chính tả.

---------Hết---------

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  Sở GD và ĐT tp Đà Nẵng

Trường THPT Quang Trung

                         

 

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP SỐ 2:

Phần I: Đọc – hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi sau:

Bàn tay khô, cứng, sỏi, sành

                                       Ôm con mưa, nắng, dỗ dành, chở che

                                            Cha là chiếc võng trưa hè

     Ru con ngon giấc tuổi thơ ngọt ngào

                                            Cha là những hạt mưa rào

     Cho con uống mát biết bao nhiêu lần

                                            Giờ đây con đã lớn khôn

          Công cha như núi Thái Sơn trong lòng!

                                                                                   ( Thương cha- Lê Thế Thành)

 

1. Anh/chị hãy xác định phong cách ngôn ngữ mà đoạn thơ trên sử dụng? (1đ)

2. Hãy nêu một biện pháp tu từ mà đoạn thơ trên sử dụng? Hãy làm rõ biện pháp tu từ vừa tìm được bằng những dẫn chứng cụ thể? (1,đ).

3. Anh/chị hãy cho biết nội dung chính của đoạn thơ?  (1,đ)

Phần II: Làm văn (6,0 điểm)

Câu 1(2đ)

Đại dịch Covid-19 có thể xem là cơ hội để mỗi chúng ta nhìn lại ý thức, trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng xã hội

Anh/ chị hãy viết bài văn ngắn ( khoảng 15 đến 30 dòng) trình bày quan điểm của mình về ý kiến trên?

 

Câu 2 (4đ) Đọc đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:

                                              “. ..     Bây giờ trâm gãy gương tan,

                                                  Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

                                                       Trăm nghìn gửi lạy tình quân,

                                                  Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!

                                                       Phận sao phận bạc như vôi!

                                                  Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

                                                       Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

                                                  Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!

       ( Trao Duyên trích Truyện Kiều- Nguyễn Du, sgk ngữ văn 10 tập II, trang 105)

 

Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên

 .

IV. HƯỚNG DẪN CHẤM

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I.Đọc-hiểu

1.

 - Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

 

1

 

2.

- Đoạn thơ trên sử dụng biện pháp tu từ: phép điệp, phép so sánh, liệt kê

- Chứng minh:

+ Phép điệp: ‘cha là”(c3) điệp với ‘cha là’(c5)

+ So sánh: cha là chiếc võng trưa hè, cha là những hạt mưa rào

+ Liệt kê: khô, cứng, sỏi, sành; mưa, nắng; dỗ dành, chở che

 

0,25

 

0,75

 

3.

-Nội dung: Hình ảnh bàn tay khô, cứng, sỏi sành che chở, dỗ dành con qua bao nắng mưa đã thể hiện được tình yêu thương vô bờ bến mà người cha dành cho con. Qua đó gợi lên trong lòng người đọc bao suy nghĩ về sự hi sinh của cha và lòng biết ơn của con cái đối với ba mẹ.

1

II. Làm văn

1.

Nghị luận

a. Triển khai các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

 Học sinh có thể sắp xếp các luận điểm theo nhiều cách nhưng về cơ bản, cần đảm bảo những yêu cầu sau:

Mở bài: Giới thiệu, dẫn dắt vấn đề.

Trong quá trình sinh tồn và phát triển, con người phải luôn đối diện với những rủi ro, thách thức đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Đại dịch Covid-19 xảy ra vào tháng 12/2019 tại thành phố Vũ Hán và đã lan rộng hơn 60 quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó có VN. Đây được xem như là một trong những “thảm họa” của cộng đồng nhưng mặt khác “ Đại dịch Covid-19 có thể xem là cơ hội để mỗi chúng ta nhìn lại ý thức, trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng xã hội

Thân bài: Triển khai các luận điểm, luận cứ để làm rõ vấn đề.

*Hiện trạng

- Khái quát tình hình chung của đại dịch covid (hai, ba dòng)

- Dịch bệnh từ lâu đã không còn là câu chuyện “của xã hội” mà đã trở thành vấn đề “của mỗi cá nhân”

- Việt Nam là một trong những quốc gia có tỉ lệ nhiễm bệnh covid thấp nhất. Thật đáng tự hào về điều đó! Vậy nhờ đâu?

* Nguyên nhân:

- Cộng đồng chung tay đẩy lùi covid:

+ Mọi người tích cực phòng chống như thế nào?

++ Đảng và Nhà nước

++ Các cán bộ nhân viên y tế

++ Người dân

=> Kết quả:

- Tinh thần, ý thức, trách nhiệm cao nên Việt Nam đã đứng vững trước cơn bão của đại dịch.

- Tính mạng người dân được an toàn

- Kinh tế, giáo dục nhanh chóng ổn định sau dịch

- Làm rạng ngời non sông Việt Nam với bạn bè quốc tế.

* Lật đề:

  - Một số trường hợp đáng lên án khi không tự ý thức, trách nhiệm:

+ Tụ tập bạn bè nhậu nhẹt, café, hát karaoke

+ Thương gia tăng giá “khẩu trang” hay sự tích trữ không cần thiết của người dân.

+ Một số người dân không khai báo trung thực khi nhập cảnh, không thực hiện đúng các nguyên tắc cách ly hay di chuyển ra khỏi vùng dịch để tránh cách ly. Họ nhận thức rất rõ về nguy cơ nhiễm bệnh, nhưng lo sợ phiền phức, bất tiện trong quá trình cách ly.

+ Lợi dụng thời cơ để đăng bài bôi xấu Đảng và Nhà nước gây hoang man cho người dân.

=> Hậu quả:

+ Lực lượng y bác sĩ thiếu hụt khẩu trang

+ Xã hội phải gánh chịu nguy cơ lây nhiễm bệnh

 + Thiệt hại về kinh tế.

* Giải pháp:

- Cần nâng cao ý thức cá nhân và trách nhiệm cộng đồng.

- Mỗi người dân là một chiến sĩ trên mặt trận xã hội mới-hiện đại, phát triển và văn minh.

- Học sinh là mầm xanh của Đất nước nên cần ý thức, trách nhiệm với cộng đồng ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường.

- Lên án, loại bỏ những ý kiến sai trái và những con người thiếu ý thức, trách nhiệm.

=> Có thể xem đại dịch Covid là thước đo ý thức của con người và đồng thời nó cũng là hồi chuông thức tĩnh cho những ai đã, đang sống cuộc sống ích kĩ, thiếu ý thức, thiếu trách nhiệm xây dựng cộng đồng lành mạnh.

Kết Bài: Khẳng định một lần nữa vấn đề nghị luận

Qua đại dịch covid chúng ta mới thấy rằng: mọi nguồn gốc sâu xa ảnh hưởng đến nền kinh tế, chính trị, văn hóa của dân tộc, đất nước đều bắt nguồn từ ý thức, trách nhiệm của mỗi cá nhân.

 

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

II. Làm văn

2. Phân tích thơ

a. Triển khai các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

 Học sinh có thể sắp xếp các luận điểm theo nhiều cách nhưng về cơ bản, cần đảm bảo những yêu cầu sau:

 Mở bài:

- Dẫn dắt vào vấn đề (Giới thiệu tác giả, đoạn trích Trao duyên rồi dẫn đến nội dung của đoạn thơ cần phân tích)

- Có thể mở bài theo cách sáng tạo riêng

 

Thân bài:

-Khái quát nội dung, ý nghĩa của đoạn trích, rồi bắt đầu đi phân tích:

* Nếu đoạn thơ đầu thể hiện sự dứt khoát đầy lí trí của k khi trao duyên cho em thì đến đoạn cuối, dường như mọi sự cứng rắn, dứt khoát kia đã nhường chổ cho cảm xúc, để rồi không kìm lòng được, k bất giác quay trở về với những cảm xúc hỗn độn, đau đớn trong lòng. Nhưng đó chính là cảm xúc rất tự nhiên, rất đời thường, thể hiện được tình yêu sâu đậm của k dành cho KT.

*. Hai câu thơ đầu: Kiều tự ý thức, tự đối thoại với mình.

-‘Trâm gãy gương tan...ái ân”: sự tan vỡ trong tình yêu của Kiều với Trọng, khiến K đau đớn xót xa, tiếc nuối, tiếc nuối cho những tháng ngày trước đó với ‘muôn vàn ái ân’ ngọt ngào.

 

*. Bốn câu thơ tiếp theo: Kiều nhận lỗi về mình và sự day dứt, giày vò về mối duyên tình của mình

‘Trăm nghìn gửi lạy tình quân”:

+ ‘Trăm nghìn” là một con số ước lệ thể hiện được ý thức của Kiều về tội lỗi của mình đối với KT

+ Lạy: Kiều đặt mình vào vị trí người có lỗi và thành thật muốn xin sự thứ lỗi của ‘tình quân’

- Kiều ý thức về số phận hiện tại: Trâm gãy gương tan, tơ duyên ngắn ngủi, phận bạc như vôi, nước chảy hoa trôi lỡ làng,..-> Tiếng lòng đau xót, ngậm ngùi của một người con gái ‘tài hoa bạc mệnh”

=> Tự ý thức về lỗi của mình, tự mình nhận hết mọi đau đớn chứng tỏ được phẩm chất cao quý của kiều và thể hiện sâu sắc tình cảm trong sáng, vị tha của Kiều dành cho Kim Trọng.

* Hai câu cuối: Sự đau đớn, tuyệt vọng của Kiều

- Nhịp thơ 3/3 và 2/2/2/2 như một tiếng nấc nghẹn ngào, đau đớn.

- Lí trí không thắng được cảm xúc, Kiều đi từ sự mạnh mẽ, dứt khoát chuyển dần về cảm xúc  nghẹn ngào, giằng xé và đỉnh điểm nổi đau đó đã bật lên thành tiếng khóc uất nghẹn.( khóc cho mối tình đầu đẹp đẽ ấy cũng chính là khóc cho số phận bạc bẽo của mình)

-  Kiều không kìm được lòng, không giữ được cảm xúc nên đã gọi tên người yêu trong sự đau đớn tuyệt vọng ‘ ôi Kim lang! Hỡi Kim lang”.

- Cách xưng hô rất thân mật, gần gũi: Kim lang, thiếp, chàng,... thể hiện được trái tim Kiều từ lâu đã xem chàng Kim là chồng và có những khao khát hạnh phúc về mái ấm gia đình

-‘Phụ” : Kiều nhận lỗi trong sự đau đớn vì Kiều biết không riêng Kiều đau mà cả Kim Trọng cũng đau không kém.

 

Kết bài:

*Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật

- Nội dung: Đoạn thơ miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật đầy sắc sảo. Trong đau khổ tột cùng, K vẫn sáng lên một nhân cách cao đẹp: cao thượng, vị tha, dịu dàng, chu đáo, hi sinh.

- Nghệ thuật:

+ Miêu tả tinh tế diễn biến tâm trạng nhân vật

+ Ngôn ngữ độc thoại nội tâm sinh động

 

0,25

 

 

 

0,5

 

 

 

3đ gồm:

 

 

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

b. Sáng tạo: có cách diễn đạt độc đáo; suy nghĩ, kiến giải mới mẻ về nội dung hoặc nghệ thuật.

0,5

 

 

c. Chính tả, dùng từ đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp của câu, ngữ nghĩa tiếng Việt.

0,25

Tổng điểm

I+II

 

10.0đ

 

 

                                                *Lưu ý chung:

1. Do đặc trưng của môn Ngữ văn, bài làm của thí sinh cần được đánh giá tổng quát, tránh đếm ý cho điểm..

2. Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu ở mỗi câu, đồng thời phải chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc.

3. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo. Bài viết có thể không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án, nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục.

4. Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng hoặc thân đoạn ở câu 5 phần làm văn.

5. Cần trừ điểm đối với những lỗi về hành văn, ngữ pháp và chính tả.

---------Hết--------

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP SỐ 3

 

Phần I: Đọc – hiểu (4,0 điểm)

Đọc đoạn thơ và trả lời những câu hỏi sau:

              Xã tắc từ đây vững bền,

              Giang sơn từ đây đổi mới.

              Kiền khôn bĩ rồi lại thái,

              Nhật nguyệt hối rồi lại minh.

              Muôn thuở nền thái bình vững chắc,

              Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu.

             Âu cũng nhờ trời đất tổ tong khôn thiêng ngầm giúp đỡ mới được như vậy.

              Than ôi!

              Một cỗ nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm;

              Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn.

              Xa gần bá cáo

              Ai nấy đều hay.

 

1. Anh/chị hãy xác định phong cách ngôn ngữ mà đoạn thơ trên sử dụng?(1đ).

2. Anh/chị hãy cho biết đoạn trích trên trích từ tác phẩm nào? Tác giả là ai?(1đ)

3.Anh/chị hãy cho biết đoạn thơ trên sử dụng những biện pháp tu từ(nổi bật) nào?. (1đ)

 

Phần II: Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1(2đ)

Có ý kiến cho rằng: ‘Chỉ khi làm ra tiền mới có thể trả hiếu cho cha mẹ”

Hãy viết đoạn văn ngắn (khoảng 15 đến 30 dòng) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên?

Câu 2(4đ) Đọc đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:

                                         

                                          ‘Nửa năm hương lửa đương nồng

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương

Trông vời trời bể mênh mang,

Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong.’

 

Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên?

 

HƯỚNG DẪN CHẤM

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I.Đọc-hiểu

1.

 - Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

 

1

 

2.

- Trích từ tác phẩm: Bình ngô đại cáo( Đại cáo bình ngô)

1

 

3.

- Biện pháp tu từ: phép điệp, phép đối

+ Phép điệp: ‘từ đây’(c1) điệp ‘từ đây’(c2)

+ Phép đối: c1-c2;c3-c4

1

II. Làm văn

1.

Nghị luận

a. Triển khai các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

 Học sinh có thể sắp xếp các luận điểm theo nhiều cách nhưng về cơ bản, cần đảm bảo những yêu cầu sau:

 Mở bài: Giới thiệu, dẫn dắt vấn đề.

 

Thân bài: Triển khai các luận điểm, luận cứ để làm rõ vấn đề.

- Vai trò, trách nhiệm của con cái đối với bậc sinh thành.

- Có nhiều cách thể hiện lòng hiếu thảo của con cái dành cho ba mẹ:

+ Lúc còn nhỏ:

* Chăm ba mẹ khi đau ốm, hỏi han những lúc ba mẹ đau ốm

* Giúp ba mẹ làm việc

* Chăm ngoan học giỏi

* Ăn nói lễ phép với ba mẹ.

+ Lúc trưởng thành đi làm:

* Gọi điện hỏi thăm ba mẹ khi xa nhà

* Mua vài món ngon cho ba mẹ

* Dẫn ba mẹ đi du lịch

* Phụng dưỡng ba mẹ khi về già

- Bác bỏ: Một số người không hiểu được “trả hiếu” nên có ý nghĩ sai lầm

+ Tương lai chưa biết điều gì xảy ra (có thể không may ba mẹ mất hoặc có thể con cái không làm ra tiền)

+ Ba mẹ sẽ vui khi thấy con cái ổn định, làm có tiền nhưng không có nghĩa là ba mẹ mong muốn con cho tiền. Họ cần sự quan tâm, yêu thương từ con nhiều hơn.

- Khẳng định:

Lòng hiếu thảo và sự đền ơn sẽ “thuận tiện” hơn khi chúng ta đi làm có tiền nhưng không phải khi có tiền mới có thể trả hiếu.

 

Kết Bài: Khẳng định một lần nữa về vấn đề đang nghị luận

- Hãy bỏ quan niệm sai lệch đó ngay từ bây giờ để mỗi ngày trôi qua chúng ta sống có trách nhiệm và ý nghĩa hơn trong từng giây phút bên ba mẹ.

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

 

 

 

 

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

II. Làm văn

2. Phân tích thơ

a. Triển khai các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

 Học sinh có thể sắp xếp các luận điểm theo nhiều cách nhưng về cơ bản, cần đảm bảo những yêu cầu sau:

 Mở bài:

- Dẫn dắt vào vấn đề (Giới thiệu tác giả, đoạn trích Chí khí anh hùng)

- Có thể mở bài theo cách sáng tạo riêng

 

Thân bài:

-Khái quát nội dung, ý nghĩa của đoạn trích, rồi bắt đầu đi phân tích:

- Bốn câu thơ đầu: Niềm khát khao lí tưởng của người anh hùng

*. Hai câu thơ đầu: Hoàn cảnh thử thách của người anh hùng

- Hoàn cảnh:

+ Thời gian: “nửa năm”: Kiều- Hải đang sống chung    

+Tình cảm: “Hương lửa đương nồng”: say đắm, mặn nồng

Þ   Hạnh phúc gia đình vẹn tròn, đưa nhân vật vào tình huống éo le khi một bên là mái ấm đang mặn nồng, một bên là lí tưởng lập nghiệp thôi thúc.

Þ   Liệu mái ấm nhỏ đó có níu được bước chân của người anh hùng?

* Hai câu thơ tiếp theo: Khát khao cháy bỏng thực hiện lí tưởng

- Lí do ra đi:

+ Trượng phu: người đàn ông có tài năng xuất chúng.

+ Động lòng bốn phương: ý chí muốn làm nên sự nghiệp lớn.

+ Thẳng rong: Dứt khoát, mạnh mẽ, quyết chí.

* Khát vọng lên đường thực hiện ước mơ của người anh hùng đã nuôi nấng trong lòng từ lâu. Chinh phục vũ trụ là niềm mong ước luôn sục sôi, thôi thúc nhân vật Từ Hải lên đường

* Lên đường thực hiện lí tưởng anh hùng để trong tương lai gần có thể bảo vệ được những con người nhỏ bé trong xã hội như Thúy Kiều.

* Toát lên vẻ đẹp chí khí anh hùng trong tư thế ngạo nghễ, phong trần, mang tầm vóc vũ trụ-> tư tưởng mới mẻ tiến bộ độc đáo của Nguyễn Du.

 

Kết bài:

Nêu khái quát lại giá trị nội dung, nghệ thuật và đưa ra suy nghĩ của mình về đoạn trích.

 

0,25

 

 

 

0,5

 

 

 

 

3đ gồm:

 

 

 

 

1,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

b. Sáng tạo: có cách diễn đạt độc đáo; suy nghĩ, kiến giải mới mẻ về nội dung hoặc nghệ thuật.

0,5

 

 

c. Chính tả, dùng từ đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp của câu, ngữ nghĩa tiếng Việt.

0,25

Tổng điểm

I+II

 

10.0đ

 

                                                                   *Lưu ý chung:

1. Do đặc trưng của môn Ngữ văn, bài làm của thí sinh cần được đánh giá tổng quát, tránh đếm ý cho điểm..

2. Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu ở mỗi câu, đồng thời phải chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc.

3. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo. Bài viết có thể không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án, nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục.

4. Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng hoặc thân đoạn ở câu 5 phần làm văn.

5. Cần trừ điểm đối với những lỗi về hành văn, ngữ pháp và chính tả.

---------Hết---------

 

 

 

 

 

 

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP SỐ 4

 

      Phần I: Đọc – hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi sau:

“ Nửa năm hương lửa đương nồng,

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.

                                          Trông vời trời bể mênh mang

Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong.”

1. Xác định phong cách ngôn ngữ  mà đoạn thơ trên sử dụng (1đ)

2. Đoạn thơ trên nằm trong đoạn trích nào? Của tác giả nào?(1,đ).

3. Cho biết nội dung chính của đoạn thơ  (1,đ)

 

Phần II: Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1(2đ)

Có ý kiến cho rằng: “Trong cuộc sống hiện đại, tình yêu phải đi đôi với sự nghiệp

Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 15 đến 30 dòng) trình bày quan điểm của anh chị về ý kiến trên.

Câu 2 (4đ) Đọc đoạn thơ sau và thực hiện yêu cần bên dưới:

                                              . ..     Bây giờ trâm gãy gương tan,

                                                  Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

                                                       Trăm nghìn gửi lạy tình quân,

                                                  Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!

                                                       Phận sao phận bạc như vôi!

                                                  Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

                                                       Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

                                                  Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

                             ( Trao Duyên trích Truyện Kiều- Nguyễn Du)

 

Anh / chị hãy phân tích đoạn thơ trên. .

 

 

 

 

 

HƯỚNG DẪN CHẤM

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I.Đọc-hiểu

1.

 - Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

 

1

 

2.

- Đoạn thơ trên nằm trong đoạn trích Trao Duyên-Truyện Kiều

- Tác giả Nguyễn Du

 

0,5

 

0,5

 

3.

-Nội dung: Niềm khát khao lí tưởng của người anh hùng Từ Hải dám từ bỏ khoảng thời gian hạnh phúc bên vợ để ra đi thực hiện ước mơ xây dựng sự nghiệp, tạo nên uy thế lẫy lừng để có thể bảo vệ những con người nhỏ bé trong xã hội như Thúy Kiều.

1

II. Làm văn

1.

Nghị luận

a. Triển khai các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

 Học sinh có thể sắp xếp các luận điểm theo nhiều cách nhưng về cơ bản, cần đảm bảo những yêu cầu sau:

 Mở bài: Giới thiệu, dẫn dắt vấn đề.

 

Thân Bài: Triển khai các luận điểm, luận cứ để làm rõ vấn đề cần nghị luận

- Vai trò của tình yêu trong đời sống

+ Hương vị không thể thiếu

+ Giúp con người có động lực, niềm vui,…

- Trong thế giới hiện đại, tình yêu không chỉ được nuôi dưỡng bằng tình cảm đơn thuần mà nó còn được vun đắp nhờ vật chất và địa vị.

- Sự nghiệp đóng góp gì trong tình yêu:

+ Sự an tâm

+ Kinh tế vững chãi

+ Hãnh diện, tự hào

- Tình yêu hôm nay không giống xưa: ‘Một mái nhà tranh hai trái tim vàng” mà thay vào đó là kinh tế ổn định mới có thể duy trì cuộc sống hôn nhân bền vững, con cái được tạo điều kiện phát triển toàn diện.

- Vậy vì yêu mà bỏ bê sự nghiệp (việc học) hay vì sự nghiệp mà bất cần tình yêu thì khó thể nào có được hạnh phúc vẹn tròn => tình yêu phải đc nuôi nấng phát triển song song cùng với sự nghiệp.

Kết Bài: Khẳng định một lần nữa vấn đề nghị luận

Tình yêu mỗi thời mỗi khác, song thời nào nó cũng đẹp và ý nghĩa nếu chúng ta biết cách yêu phù hợp. Trong thời đại này, sự hài hòa giữa tình yêu và sự nghiệp hoàn toàn hợp lí và cần thiết.

 

 

 

 

0,5

 

 

 

 

 

 

 

 

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

II. Làm văn

2. Phân tích thơ

a. Triển khai các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

 Học sinh có thể sắp xếp các luận điểm theo nhiều cách nhưng về cơ bản, cần đảm bảo những yêu cầu sau:

 Mở bài:

- Dẫn dắt vào vấn đề (Giới thiệu tác giả, đoạn trích Trao duyên rồi dẫn đến nội dung của đoạn thơ cần phân tích)

- Có thể mở bài theo cách sáng tạo riêng

 

Thân bài:

-Khái quát nội dung, ý nghĩa của đoạn trích, rồi bắt đầu đi phân tích:

* Nếu đoạn thơ đầu thể hiện sự dứt khoát đầy lí trí của k khi trao duyên cho em thì đến đoạn cuối, dường như mọi sự cứng rắn, dứt khoát kia đã nhường chổ cho cảm xúc, để rồi không kìm lòng được, k bất giác quay trở về với những cảm xúc hỗn độn, đau đớn trong lòng. Nhưng đó chính là cảm xúc rất tự nhiên, rất đời thường, thể hiện được tình yêu sâu đậm của k dành cho KT.

*. Hai câu thơ đầu: Kiều tự ý thức, tự đối thoại với mình.

-‘Trâm gãy gương tan...ái ân”: sự tan vỡ trong tình yêu của Kiều với Trọng, khiến K đau đớn xót xa, tiếc nuối, tiếc nuối cho những tháng ngày trước đó với ‘muôn vàn ái ân’ ngọt ngào.

 

*. Bốn câu thơ tiếp theo: Kiều nhận lỗi về mình và sự day dứt, giày vò về mối duyên tình của mình

‘Trăm nghìn gửi lạy tình quân”:

+ ‘Trăm nghìn” là một con số ước lệ thể hiện được ý thức của Kiều về tội lỗi của mình đối với KT

+ Lạy: Kiều đặt mình vào vị trí người có lỗi và thành thật muốn xin sự thứ lỗi của ‘tình quân’

- Kiều ý thức về số phận hiện tại: Trâm gãy gương tan, tơ duyên ngắn ngủi, phận bạc như vôi, nước chảy hoa trôi lỡ làng,..-> Tiếng lòng đau xót, ngậm ngùi của một người con gái ‘tài hoa bạc mệnh”

=> Tự ý thức về lỗi của mình, tự mình nhận hết mọi đau đớn chứng tỏ được phẩm chất cao quý của kiều và thể hiện sâu sắc tình cảm trong sáng, vị tha của Kiều dành cho Kim Trọng.

* Hai câu cuối: Sự đau đớn, tuyệt vọng của Kiều

- Nhịp thơ 3/3 và 2/2/2/2 như một tiếng nấc nghẹn ngào, đau đớn.

- Lí trí không thắng được cảm xúc, Kiều đi từ sự mạnh mẽ, dứt khoát chuyển dần về cảm xúc  nghẹn ngào, giằng xé và đỉnh điểm nổi đau đó đã bật lên thành tiếng khóc uất nghẹn.( khóc cho mối tình đầu đẹp đẽ ấy cũng chính là khóc cho số phận bạc bẽo của mình)

-  Kiều không kìm được lòng, không giữ được cảm xúc nên đã gọi tên người yêu trong sự đau đớn tuyệt vọng ‘ ôi Kim lang! Hỡi Kim lang”.

- Cách xưng hô rất thân mật, gần gũi: Kim lang, thiếp, chàng,... thể hiện được trái tim Kiều từ lâu đã xem chàng Kim là chồng và có những khao khát hạnh phúc về mái ấm gia đình

-‘Phụ” : Kiều nhận lỗi trong sự đau đớn vì Kiều biết không riêng Kiều đau mà cả Kim Trọng cũng đau không kém.

 

Kết bài:

*Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật

- Nội dung: Đoạn thơ miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật đầy sắc sảo. Trong đau khổ tột cùng, K vẫn sáng lên một nhân cách cao đẹp: cao thượng, vị tha, dịu dàng, chu đáo, hi sinh.

- Nghệ thuật:

+ Miêu tả tinh tế diễn biến tâm trạng nhân vật

+ Ngôn ngữ độc thoại nội tâm sinh động

 

0,25

 

 

 

0,5

 

 

 

 

3đ gồm:

 

 

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

b. Sáng tạo: có cách diễn đạt độc đáo; suy nghĩ, kiến giải mới mẻ về nội dung hoặc nghệ thuật.

0,5

 

 

c. Chính tả, dùng từ đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp của câu, ngữ nghĩa tiếng Việt.

0,25

Tổng điểm

I+II

 

10.0đ

 

                                                  *Lưu ý chung:

1. Do đặc trưng của môn Ngữ văn, bài làm của thí sinh cần được đánh giá tổng quát, tránh đếm ý cho điểm..

2. Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu ở mỗi câu, đồng thời phải chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc.

3. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo. Bài viết có thể không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án, nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục.

4. Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng hoặc thân đoạn ở câu 5 phần làm văn.

5. Cần trừ điểm đối với những lỗi về hành văn, ngữ pháp và chính tả.

---------Hết---------

 

 

 


   :: Các tin khác

 
Điện thoại : 0511.3691445 - 0511.3656697 * Email: quangtrung.thpt@yahoo.com
* - Website: thptquangtrung.vn * Website : thpt-quangtrung-danang.edu.vn