Ngày 29-11-2020 00:34:36
 


Mọi chi tiết xin liên hệ với trường chúng tôi theo mẫu dưới :
Họ tên
Nội dung
 

Lượt truy cập : 5322318
Số người online: 0
 
 
 
 
ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2020 MÔN NGỮ VĂN
 

                                                 TÁC PHẨM VĂN HỌC

 BÀI:TÁC GIẢ HỒ CHÍ MINH

 I.Tiểu sử: Hồ Chí Minh (1890 – 1969),Quê hương : Nam Đàn, Nghệ An

1. Nhà yêu nước và cách mạng vĩ đại của dân tộc

2. Nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào công nhân quốc tế

3. Nhà nghệ sỹ lớn trên nhiều lĩnh vực. Danh nhân văn hóa thế giới.

II. Sự nghiệp văn học:

1. Quan điểm sáng tác

- Coi văn chương là một vũ khí chiến đấu cho sự nghiệp cách mạng - Coi trọng tính chân thật và tính dân tộc của tác phẩm

- Luôn xác định rõ mục đích và đối tượng khi viết.

Khi cầm bút, bao giờ cũng đặt câu hỏi: viết cho ai ?viết để làm gì ?và sau đó mới quyết định nội dung viết cái gì? và viết như thế nào?

2. Di sản văn học: lớn lao về tầm vóc tư tưởng phong phú về thể loại và đa dạng về phong cách nghệ thuật.

a. Văn chính luận:

+ Mục đích: đấu tranh chính trị nhằm tiến công trực diện kẻ thù, thực hiện những nhiệm vụ cách mạng của dân tộc.

+ Nội dung: lên án chế độ thực dân Pháp và chính sách thuộc địa, kêu gọi thức tỉnh người nô lệ bị áp bức liên hiệp lại trong mặt trận đấu tranh chung.

+ Một số tác phẩm tiểu biểu: Các bài báo đăng trên t báo: Người cùng khổ, Nhân đạo.. Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên Ngôn độc lập Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, không có gì quý hơn độc lập, tự do

b.Truyện và kí: Truyện ngắn: Hầu hết viết bằng tiếng Pháp xuất bản tại Paris khoảng từ 1922-1925: Lời than vãn cảu bà Trưng Trắc, con người biết mùi hun khói. Vi hành – Ký: Nhật ki chìm tàu. Vừa đi vừa kể chuyện.

+ Nội dung: Tố cáo tội ác dã man, bản chất tàn bạo xảo trá của bọn thực dân – phong kiến…. đề cao những tấm lòng yêu nước và cách mạng.

+ Nghệ thuật: Bút pháp hiện đại, nghệ thuật trần thuật linh hoạt, xây dựng được những tình huống độc đáo, hình tượng sinh động, sắc sảo.

c.Thơ ca: Có giá trị nổi bật trong sự nghiệp sáng tác, đóng góp quan tr ọng nền thơ ca VN. Nhật kí trong tù (133 bài). Thơ HCM (86 bài). Thơ chữ Hán HCM (36 bài).

3. Phong cách nghệ thuật: Độc đáo, đa d ạng, mỗi thể loại VH đ ều có phong cách riêng, hấp dẫn.

a.   Văn chính luận: ngắn gọn, tư duy sắc sảo, lập luận chặt chẽ, lý luận đanh thép, bằng chứng thuyết phục, giàu tính luận chiến, giàu cảm xúc hình ảnh, giọng văn đa dạng, hùng hồn đanh thép khi ôn tồn lặng lẽ thấu lí đạt tình.

b.    Truyện và kí: hiện đ ại, thể hiện tính chiến đ ấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng vừa có sự sắc bén, thâm thúy vừa hài hước, hóm hỉnh,…

 

c.   Thơ ca: lời lẽ giản dị, mộc mạc, mang màu sắc dân gian hiện đại, dễ thuộc, dễ nhớ, có sức tác động lớn trong những bài thơ tuyên truyền, nghệ thuật hàm súc, có sự kết hợp đ ộc đáo gi ữa bút pháp cổ điển và hiện đ ại, chất trữ tình và tính chiến đấu.

- Nhìn chung Phong cách nghệ thuật của Bác đa dạng, phong phú ở các thể loại nhưng rất thống nhất. Cách viết ngắn gọn, trong sáng giản dị, sử dụng linh hoạt các thủ pháp nghệ thuật.

 

 

4. Đánh giá chung:

- Thơ văn của Bác gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, trở thành vũ khí đắc lực cho nhiệm vụ tuyên truyền, cổ vũ nhân dân chiến đấu và xây dựng. - Thể hiện sâu sắc tư tưởng, tình cảm và tâm hồn cao cả của Người.

- Bác có nhiều tài năng trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật.

 

                                                      TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

 

                                                                       -Hồ Chí Minh-

 

Tìm hiểu khái quát

1. Hoàn cảnh ra đời

- Trên thế giới: Cuộc đại chiến lần thứ hai đang ở giai đoạn kết thúc. Hồng quân Liên Xô đã t ấn công vào tận sào huyệt của phát xít Đức. Ở phương Đông phát xít Nhật đã đầu hàng vô điều kiện đồng minh.

- Trong nước: Cả nước nổi dậy giành chính quyền. Ngày 26/8 Bác Hồ từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang – Hà Nội, lãnh tụ Hồ Chí Minh soạn thảo bản Tuyên ngôn Đ ộc lập. Và Ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào ta, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới Độc lập, Tự do.

2. Thể loại: Nghị luận chính trị xã hội (chính luận; tuyên ngôn)

3. Mục đích

Tuyên bố nền độc lập của dân tộc. Ngăn chặn âm mưu xâm lược của các nước thực dân, đế quốc.

II. Nội dung và nghệ thuật

                        Đoạn 1: Hỡi… Không ai chối cãi được

Đặt vấn đề:Cơ sở pháp lý và chính nghĩa của bản Tuyên ngôn Độc lập a. Nội dung:

-                              Khẳng đ ịnh quyền bình đ ẳng, quyền đư ợc sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Đó là những quyền không ai có thể xâm phạm được; người ta sinh ra phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

-                              Hồ Chí Minh đã trích d ẫn 2 câu nổi tiếng trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền của Mỹ và bản Tuyên ngôn Dân quyền của Cách mạng Pháp, trước hết là khẳng định Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng lớn, cao đẹp của thời đại, một lý tưởng và quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do của các dân tộc trên thế giới.

- Sau đó là đ ể đặt ngang hàng 3 cuộc cách mạng, 3 nền đ ộc lập, 3 bản Tuyên ngôn lên một hàng, đã n ối quá khứ với hiện tại, đưa cách m ạng VN vào dòng chảy của cách mạng thế giới.

b. Nghệ thuật:

- Cách đặt vấn đề rất đặc sắc, lập luận khôn khéo và kiên quyết.

- Cách trích dẫn khéo léo của một nhà hoạt động chính trị, một nhà chính luận có tầm vóc và tài năng.

- Thủ pháp: “gậy ông đập lưng ông”

Đoạn 2: Thế mà….Dân chủ Cộng hòa

Giải quyết vấn đề: Bản cáo trạng tội ác thực dân Pháp, khẳng định sự thật nhân dân VN đã làm CMT8 thành công, giành độc lập tự do cho đ ất nước.

a.        Nội dung:

-      Tố cáo toàn diện và sâu sắc những tội ác tày trời của thực dân Pháp.

-      Vạch trần bộ mặt xảo quyệt, tham lam, giả dối của thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”.

Năm tội ác chính trị: 1 – tước đoạt tự do dân chủ, 2 – luật pháp dã man, chia để trị, 3 – chém giết những chiến sĩ yêu nước của ta, 4 – ràng buộc dư luận và thi hành chính sách ngu dân, 5- đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện.

Năm tội ác lớn về kinh tế: 1- bóc lột tước đoạt, 2- độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng, 3- sưu thuế nặng nề, vô lý đã bần cùng nhân dân ta, 4- đè nén khống chế các nhà tư sản ta, bóc lột tàn nhẫn công nhân ta, 5- gây ra thảm họa làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói năm 1945.

Trong vòng 5 năm (1940 – 1945) thực nhân Pháp đã hèn h ạ và nhục nhã “bán nước ta 2 lần cho Nhật”. Thẳng tay khủng bố Việt Minh; “thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”.

Từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Nhân dân ta đã nổi dậy giành chính quyền khi Nhật hàng đồng minh. Nhân dân đã đánh đ ổ các xiềng xích thực dân và chế độ quân chủ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Chế độ thực dân Pháp trên đất nước ta vĩnh viễn chấm dứt và xóa bỏ,trên nguyên tắc dân tộc bình đẳng mà tin rằng các nước Đồng minh “quyết không thể công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”.

b. Nghệ thuật:

- Dẫn chứng lịch sử- thực tiễn đanh thép, cách lập luận theo lối liệt kê, trùng điệp, tăng cấp, những hình ảnh ẩn dụ- tượng trưng, giọng điệu sôi sục căm hờn và đau xót.

- Cơ sở thực tế và lịch sử của bản Tuyên ngôn độc lập được Hồ Chí Minh lập luận một cách chặt chẽ với những lí lẽ đanh thép, hùng hồn.

3. Đoạn 3: Kết thúc vấn đề:

Lời tuyên bố Độc lập và khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do của Chính phủ và toàn thể nhân dân Việt Nam.

a. Nội dung:

- Tuyên bố dứt khoát, triệt để: thoát li hẳn mọi ràng buộc trước đây, xóa bỏ tất cả, xóa bỏ hết những hiệp định bất công, bất bình đẳng mà chính quyền nhà Nguyễn đã kí với Pháp.

- Khẳng định ý chí và sức mạnh quyết tâm của cả dân tộc đoàn kết một lòng chống lại âm mưu xâm lược của thực dân Pháp.

- Tuyên bố với nhân dân tiến bộ thế giới: công nhận quyền độc lập của VN

- Khẳng định chắc nịch và đanh thép, ý chí thống nhất cao của toàn thể dân tộc VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền độc lập ấy.

b.  Nghệ thuật: Lập luận vững chắc, chặt chẽ chính xác về ngôn từ.

1.     Về lịch sử: Là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta và mở ra kỉ nguyên mới độc lập.

2.     Về văn học: TNĐL là bài văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn, đầy sức thuyết phúc, áng văn bất hủ.

 

                                            

 

TÂY TIẾN

Phần 1: Tìm hiểu khái quát:

- Quang Dũng -

 

1.Tác giả : Quang Dũng (1921-1988) - Tên thật là Bùi Đình Diệm.

- Quê quán Phượng Trì, Đan Phương, Hà Tây.

- Cuộc đời: Từng gia nhập quân đội, làm thơ, viết văn, biên tập viên nhà xuất bản

- Con người : Là một nghệ sĩ đa tài “ Cầm, kì, thi, hoạ”, nhưng trước hết là một

nhà thơ.

- Phong cách thơ: Hồn hậu, phóng khoáng, hào hoa, lãng mạn.

2.Các tác phẩm chính: Rừng biển quê hương (in chung, 1957), Mùa hoa gạo (truyện ngắn, 1950), Mây đ ầu ô (1986), Thơ văn Quang Dũng (tuyển thơ văn, 1988).

3.Hoàn cảnh ra đời:

*            Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, thể hiện sâu sắc phong cách thơ Quang Dũng, in trong tập thơ “Mây đầu ô” (1986).

- Tây Tiến là một đơn vị bộ đội thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt Lào và đánh tiêu hao sinh lực địch ở Thượng Lào và miền Tây Bắc Bộ Việt Nam.

- Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng: từ Mai Châu, Châu Mộc sang Sầm Nưa rồi vòng về phía Tây tỉnh Thanh Hóa.

- Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên, sinh viên Hà N ội. Họ chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn lạc quan yêu đời.

- Quang Dũng làm đại đội trưởng ở đó một thời gian rồi chuyển đơn vị khác vào năm 1948. Xa đơn vị cũ không lâu, tại làng Phù Lưu Chanh vì nhớ anh em, đồng đội nên Quang Dũng đã viết bài thơ này.

- Bài thơ lúc đầu có tên gọi Nhớ Tây Tiến. Về sau tác giả bỏ chữ “nhớ” chỉ còn hai chữ Tây Tiến bởi bản thân hai chữ Tây Tiến đã bao hàm nỗi nhớ đoàn quân Tây Tiến.

Phần II. Nội dung và nghệ thuật

1. Đoạn 1:

Nội dung: Nhớ chặng đường hành quân gian khổ của đoàn binh Tây Tiến trên nền thiên nhiên miền Tây Bắc.

- 2 câu đầu:

+Cảm xúc chủ đạo: Nỗi nhớ

+Đối tượng của nỗi nhớ: Sông Mã, Tây Tiến, núi rừng

+Trạng thái của nỗi nhớ:“Nhớ chơi vơi”: nhớ sâu nặng, tha thiết, trào dâng, không định hình, không thể kìm nén.

                         Các câu còn lại:

                         Nhớ chặng đường hành quân

+           Hình ảnh đoàn quân

-          Các địa danh của miền Tây: Sài Khao, Mường Lát, Mai Châu...

-          Cụm từ: sương lấp, đêm hơi

-          Hình ảnh: Đoàn quân mỏi

  Ý chí mạnh mẽ và tâm hồn bay bổng của người chiến sĩ Tây Tiến

+          Hình ảnh con đường hành quân

                         Điệp từ dốc

                         Từ láy khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút

                         Thanh trắc liên tiếp, dồn dập

                         Hình ảnh cồn mây, súng ngửi trời

                         Tiểu đối ngàn thước lên cao/ ngàn thước xuống

Con đường hành quân hiểm trở, gãy khúc, hoang sơ, trùng điệp Người lính ngạo nghễ, hiên ngang

                           Câu thơ: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi: Toàn thanh bằng, tạo cảm giác về sự bình yên, êm ả

+           Sự hi sinh:

                           Từ láy: dãi dầu

                           Cụm từ: không bướ c nữ a, bỏ quên đời

-                              Nhớ ôi Tây Tiến...

-                              Mai Châu mùa em..

Khói cơm nghi ngút và hương vị lúa nếp xua tan mệt mỏi và làm người lính tươi tỉnh sau những ngày hành quân.

Nghệ thuật: Từ ngữ giàu giá trị tạo hình, từ láy, phối hợp thanh bằng trắc...

 =>Đoạn mở đầu bài thơ “ Tây Tiến” da diết nỗi nhớ đồng đội , nhớ núi rừng Tây Bắc của tác giả Quang Dũng. Qua nỗi nhớ, con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến và bức tranh núi rừng Tây Bắc hiện về khá rõ nét.
Đó cũng chính là cái “Tình “ mà Quang Dũng dành cho Tây Tiến ,Tây Bắc : Yêu mến, gắn bó và tự hào.
( Chế Lan Viên : Khi ta ở , chỉ là nơi đất ở /Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn )

2. Đoạn 2:

Nội dung:

+          Cảnh một đêm liên hoan văn nghệ:

-            Không gian: “hội đuốc hoa”> huyền ảo, lung linh, rực rỡ. - Âm thanh : “khèn” > vi vu, réo rắt.

- Nhân vật trung tâm: “em” với xiêm áo lộng lẫy (xiêm áo tự bao giờ) vừa e thẹn, tình tứ (e ấp) vừa duyên dáng trong điệu vu làm đắm say lòng người (man điệu).

- “Kìa em”: cái nhìn vừa ngạc nhiên vừa mê say ngây ngất. Vẻ đẹp lung linh, hoang dại, trữ tình đến mê hoặc.

+ Cảnh sông nước miền Tây:

- Không gian: chiều sương, dòng nước > mênh mông, nhòe mờ, ảo mộng


- Hình ảnh: “hồn lau”, “dáng người trên độc mộc”, “hoa đong đưa” > những nét vẽ mềm mại, duyên dáng, khác hẳn những nét khắc bạo, khỏe, gân guốc khi đặc tả dốc đèo miền Tây.

Nghệ thuật: chỉ gợi mà không tả, vận dụng bút pháp của nhạc, của họa để dựng cảnh > Đoạn thơ đầy chất nhạc, chất họa

3. Đoạn 3: Nội dung:

+ Hai câu đầu: Chân dung hiện thực của người lính

-          Vừa bi: “không mọc tóc”: vừa để tiện lợi trong việc đánh giáp lá cà, vừa phản ảnh một thực tế - bị rụng tóc vì sốt rét, “quân xanh màu lá”: nước da xanh xao do ăn uống thiếu thốn, sốt rét bệnh tật hành hạ.

-          Vừa hùng: Tác giả không né tránh hiện thực tàn khốc của chiến tranh đã lưu dấu trên hình dung người lính nhưng qua cái nhìn đậm màu sắc lãng mạn:

· “Đoàn binh” chứ không phải “đoàn quân” > hào hùng.

· “Quân xanh màu lá” vẫn “giữ oai hùm” > oai phong, dữ dằn với tư thế lẫm liệt của chúa tể nơi rừng thiêng.

+ Hai câu tiếp: Giấc mộng lãng mạn của người lính

-          Tả vẻ lẫm liệt uy phong của người lính, nhà thơ không cố công khắc tạc tượng đài trượng phu khô cứng không tim.

-          Nỗi nhớ trong giấc mơ: Hà Nội, dáng Kiều thơm: đằng sau vẻ ngoài dữ dằn, oai nghiêm là trái tim khao khát yêu thương, đầy chất nghệ sĩ

Vẻ đẹp hào hoa lãng mạn và trái tim khát khao yêu thương. + 4 câu tiếp: cái chết bi tráng và sự bất tử.

-          Tả cái chết nhưng không bi lụy.

-          Hệ thống từ Hán Việt: biên cương, mồ viễn xứ, chiến trường, áo bào, khúc độc hành > không khí trang trọng thiêng liêng.

-          Phủ định từ “chẳng”: thái độ kiên quyết hi sinh vì nghĩa lớn.

-          Nói giảm nói tránh “anh về đất”> vợi đi cảm giác đau thương.

-          “Khúc độc hành”: âm thanh át đi cảm xúc bi thương > gợi về sự ra đi của những anh hùng nghĩa sĩ thửa xưa > đưa tiễn người là khúc độc hành của núi sông > bất tử hóa hình ảnh người lính Tây Tiến

-          Hình ảnh người lính đậm chất bi tráng, không bi lụy.

    -Tình cảm trân trọng, đau thương, thành kính c ủa nhà thơ trước sự hi sinh đồng đội.

Vẻ đẹp hào hùng và hào hoa , đậm chất bi tráng của người lính Tây Tiến.

Nghệ thuật: sử dụng từ Hán Việt, tả thực, nói giảm; Bút pháp hiện thực kết hợp

lãng mạn

4. Đoạn 4:

Nội dung:

-          Tây Tiến người đi không hẹn ước/ Đường lên thăm thẳm...

Quyết tâm ra đi không hẹn ngày trở lại

-          Ai lên Tây Tiến…./ Hồn về Sầm Nứa...


Khẳng định tâm hồn mình thuộc về Tây Tiến, không nghỉ đến ngày trở về.

Nghệ thuật: Nhịp thơ: chậm, giọng thơ: buồn nhưng tinh thần “chẳng về xuôi” vẫn mang linh hồn hào hùng của cả đoạn thơ.

 

                                                             ĐẤT NƯỚC

-Trích trường ca “Mặt đường khát vọng” Nguyễn Khoa Điềm-

I. Khái quát về tác giả, tác phẩm.

Nguyễn Khoa Đi ềm sinh 1943 tại Phong Đi ền, Thừa Thiên Huế trong một gia đình trí thức có truyền thống yêu nước và cách mạng.

-          Trước 1975: Nguyễn Khoa Điểm hoạt động trong phong trào học sinh sinh viên thành phố Huế, xây dựng cơ sở cách mạng, viết báo, làm thơ.

-              Sau 1975 : Tiếp tục hoạt động chính trị, văn nghệ tại Huế, từng giữ các chức vụ quan trọng trong lĩnh vực VH-VNghệ và TW Đảng.

Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ ông có sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng.

-          Sau đại hội X của Đảng ông nghỉ hưu tại Huế, tiếp tục làm thơ.

-          Năm 2000 được nhận giải thưởng nhà nước về VHNT.

2. Tác phẩm chính:

Đất ngoại ô (1972); Mặt đường khát vọng (1974); Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986); Cõi lặng (2007).

3. Hoàn cảnh sáng tác trường ca “Mặt đường khát vọng”.

Trường ca mặt đư ờng khát vọng được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị Thiên năm 1971. in lần đ ầu 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm Miền Nam về non sông đ ất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hoà nhịp với cuộc chiến đấu chống Đế quốc Mĩ xâm lược.

Đoạn trích Đất nước phần đ ầu chương V của trường ca là một trong những đoạn thơ hay về đề tài Đất nước trong thơ hiện đại.

II.Nội dung & nghệ thuật đoạn trích.

a) Phần 1:

* Đoạn 1: Từ đầu ….Đất Nước có từ ngày đó… (Sự hình thành và phát triển của Đất Nước)..

- Đất nước trong câu chuyện cổ tích, búi tóc của mẹ, miếng trầu của bà, cái kèo cái cột, hạt gạo ta ăn, cây tre quanh nhà, mu ối mặn, gừng cay...” bình dị, thân thiết trong những sự vật hàng ngày và trong cái vĩnh hằng rất đỗi thiêng liêng.

- Các cụm từ: Đất Nước bắt đầu, ..có trong…lớn lên thể hiện sự hình thành, phát triển Đất Nước gắn liền với phong tục, tập quán, lối sống, quá trình dựng nước và giữ nước.

- Hai từ Đất Nước được viết hoa và đứng ở đầu câu tạo nên âm hưởng tự hào và khắc sâu chủ đề về hình tượng Đất Nước.

* Đoạn 2 (Đất là nơi anh đến trường …. nhớ ngày giỗ tổ). - Đất nước trong không gian địa lí.

 

+            Đất Nước - không gian đời thường gần gũi: Đường anh đến trường, nước em tắm.

+            Đất Nước - không gian của tình yêu đôi l ứa. (Tình yêu của cá nhân với tình yêu đất nước,– tư tưởng chung của thời đại).

+            Đất Nước - không gian kì vĩ tráng lệ, không gian di dưỡng tâm hồn để những tâm hồn thiết tha với quê hương tìm về.

- Đất Nước trong chiều dài lịch sử:

+          Huyền thoại âu cơ, lạc long quân, khơi dậy khối đoàn kết dân tộc.

+           Giỗ tổ Hùng Vương, chúng ta, con cháu mai sau...nhắc nhở hướng về truyền thống cội nguồn, hướng tới tương lai.

* Đoạn 3 (Trong anh và em…Đất Nước muôn đời). - Đất Nước gắn bó thân thiết:

+          Đất Nước bên ta (Hạt muối, củ gừng, cái kèo, cái cột) Đất Nước hóa thân vào

sự sống của mỗi chúng ta (Giọng nói, tính cách..)

+          Đất Nước trong quan hệ của tình yêu lứa đôi, trong tình cha mẹ với con cái, trong tình cảm cộng đồng rộng lớn, trong quá khứ, hiện tại, mai sau.

- Trách nhiệm của chúng ta: Gắn bó (đoàn kết) san sẻ (chung sức gánh vác trách nhiệm) thậm chí phải biết hi sinh cho Đất Nước.

- Đoạn thơ kết thúc như một lời nhắn nhủ chân thành về trách nhiệm với Đ ất Nước.

Tóm lại:

- Chất liệu ca dao, truyền thuyết, cổ tích tác giả đã truyền đến bạn đọc hình ảnh Đất Nước từ quá khứ đến hiện tại, tương lai. Đ ất Nước bình dị nhưng rất đ ỗi thiêng liêng, Đất Nước hiện hữu trong cái hàng ngày và cái vĩnh hằng.

- Giọng thơ trữ tình chính luận: dồi dào cảm xúc, sâu lắng suy tư, chân thành tha thiết, truyền đ ến bạn đ ọc niềm yêu mến tự hào và ý thức trách nhiệm với Đ ất Nước.

b. Phần 2: Tư tưởng Đất nước của nhân dân.

* Đoạn 1(Từ những người vợ…hoá núi sông ta).

- Các địa danh: Vọng phu, trống mái, núi bút, non nghiên, con cóc, con gà, ông

Đốc, ông Trang, Bà Đen, Bà Đi ểm.... không phải là sự liệt kê giản đơn, mà là hình ảnh nhân dân bằng cuộc đời, sinh hoạt tô điểm, đặt tên cho núi sông.

- Những danh từ (Người vợ.. người yêu nhau..người trò nghèo..người dân..gót ngựa..con gà..con cóc..con rồng) kết hợp với các động từ góp cho, góp nên, góp mình, để lại, góp tên, với cách trình bày liệt kê kết hợp với quy nạp đã nâng tầm khái quát ý thơ.

* Đoạn 2 (em ơi em…Họ làm ra Đất Nước).

- Thời bình họ vất vả một nắng hai sương làm ra hạt lúa củ khoai nuôi sống mình và xây dựng phát triển Đất Nước.

– Thời chiến người con trai ra trận. Người con gái nuôi con chờ chồng” và khi “giặc đến nhà” thì “đàn bà cũng đánh”.

-  Họ sống giản dị, chết bình tâm, âm thầm cống hiến và lặng lẽ hi sinh. Những con người ấy là nhân dân – Người đã làm nên lịch sử oai hùng của dân tộc.

* Đoạn 3 (còn lại).

-          Đại từ “Họ” kết hợp với các động từ “truyền, gánh, đắp, be..”Biện pháp liệt kê: Hạt lúa, ngọn lửa, ngôn ngữ, tên xã, tên làng, làm lụng, trồng cây hái trái khẳng

định nhân dân trên hành trình sáng tạo ra giá trị vật chất, văn hoá..

-          Hai vế “Đất Nước này là Đất nước Nhân dân – Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”. điệp lại 2 lần nhấn mạnh khái quát thành chủ đề cho cả đoạn thơ.

-          Phẩm chất tốt đẹp của con người VN được thể hiện trong thơ ca dân gian: Say đắm thủy chung trong tình yêu, quý trọng nghĩa tình, quyết liệt với kẻ thù.

Nhận xét:

Đoạn thơ được trình bày theo phương pháp quy nạp, chất liệu văn hóa văn gian đậm đà, gần gũi: cảnh núi sông gắn liền với tâm hồn dân tộc. Cái bình dị quanh ta hòa quện với cái cao cả thiêng liêng đ ể tạo nên vẻ đẹp vĩnh hằng của Đ ất nước.

 

                                                              

 

 

 

                                                           SÓNG

                                                                      - Xuân Quỳnh -

I. Khái quát về tác giả, tác phẩm.

1. Tác giả.

-          Xuân Quỳnh tên là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh (1942 –1988) quê Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình công chức, sớm mồ côi mẹ. Cuộc đời bất hạnh, luôn khao khát tình yêu, mái ấm gia đình và tình mẫu tử.

-          Xuân Quỳnh là một nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống mĩ.

Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.

-          Năm 2001, Xuân Quỳnh được tặng giải thưởng nhà nước về VHNT.

2.Các tác phẩm chính: tằm – Chồi biếc ( 1963), Hoa dọc chiến hào (1968), Gió Lào cát trắng (1974)...

3.Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Sóng.

-          Bài thơ sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền ( Thái Bình), in trong tập Hoa dọc chiến hào.

II. Nội dung & nghệ thuật bài thơ .

1. Cảm nhận chung.

-          Âm điệu của bài thơ

+          Thể thơ 5 chữ, khổ chẵn tạo trạng thái nhịp nhàng, đều đặn.

+          Từ đầu đến cuối bài thơ không hề có dấu chấm câu tạo âm hưởng miên man không dứt.

=> Âm hưởng đó c ủa ngôn ngữ thơ ca cũng là nhịp đi ệu của sóng (lúc dịu êm, lúc sôi nổi, nhịp nhàng sóng đôi tri ền miên bất tận) đồng thời cũng vừa là nhịp

điệu bên trong tâm hồn người đang yêu ( những đ ợt sóng cảm xúc sôi nổi, lắng sâu).

- Hình tượng “sóng”:

+ Sóng và em là hai hình tượng tồn tại song song trong bài thơ. Có lúc tách ra trong kết cầu song hành. Có lúc hòa nhập trên một dòng thơ. Song hành đ ể soi chiếu, hòa nhập để thấu tỏ.

+ Sóng trong bài thơ có tính thẩm mỹ là hình tượng ẩn dụ cho nhân vật trữ tình.

 

2. Nội dung & nghệ thuật

a) Phần 1: (bảy khổ thơ đầu). Sóng và em – những nét tương đồng:

* Khổ 1: Trạng thái của sóng và tình yêu.

  - Trạng thái đối lập, đa dạng của sóng: dữ dội – dịu êm, ồn ào –lặng lẽ. trạng thái đối cực phức tạp, trong tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu.

- Sóng khát khao vươn ra biển lớn để nhận thấy sức mạnh của mình.(Sông - không hiểu mình - Sóng - tìm ra bể)

Người phụ nữ trong tình yêu không cam chịu, nhẫn nhục mà dứt khoát, quyết liệt từ bỏ cái tầm thường, nhỏ hẹp để đến với cái lớn lao khoáng đãng, bao dung. * Khổ 2: Sự vĩnh hằng của sóng và tình yêu

- Sóng: ngày xưa, ngày sau: vẫn thế  trường tồn của sóng trước thời gian.

- Khát vọng tình yêu - bồi hồi trong ngực trẻ: tình yêu là khát vọng lớn lao, vĩnh hằng của tuổi trẻ và nhân loại.

*  Hai khổ 3,4: Sự bí ẩn của sóng và tình yêu.

- Sóng bắt đầu từ gió, gió bắt đầu từ đâu? Thiên nhiên cũng đầy bí ẩn.

- Người phụ nữ dựa vào sóng để truy tìm khời nguồn của tình yêu. Tình yêu là tình cảm chỉ có thể cảm nhậ không thể lí giải rạch ròi. Đây cũng chính là sức hấp dẫn của tình yêu.

- Điệp ngữ “em nghĩ” được lặp lại 2 lần đứng đầu dòng thơ thể hiện nhu cầu khám phá tự nhận thức của người phụ nữ.

*  Khổ 5: Đặc điểm của sóng và tình yêu.

- Quy luật của sóng là luôn vận động hướng về bờ cũng như nỗi nhớ là tâm trạng thường trực của tình yêu.

- Nỗi nhớ da diết kéo dài qua thời gian chảy tràn qua không gian, chiếm lĩnh tâm hồn con người lúc mơ lúc tỉnh, cả vô thức lẫn tiềm thức.

- Điệp ngữ “con sóng” lặp lại 3 lần, số lượng câu thơ tăng như muốn phá tung giới hạn của bờ cũng là giai điệu da diết về tình yêu và nỗi nhớ.

* Khổ 6,7: Sự thủy chung son sắt và nghị lực vượt lên gian khổ..

- Sóng vượt qua mọi chướng ngại để đến với bãi bờ cũng như tình yêu luôn vượt qua mọi chướng ngại để bảo vệ lòng chung thủy.

b) Phần 2: Những suy tư, lo âu, trăn trở trước cuộc đời và khát vọng tình yêu.

-   Khổ 8: Giọng thơ trầm lắng suy tư, kiểu câu nhượng bộ: Âu lo, phấp phỏng, ý thức được cái vô cùng của vũ trụ >< cái nhỏ bé, hữu hạn của con người và sự mong manh của hạnh phúc (cảm giác thường trực trong thơ XQ giai đoạn sau ).

-          Khổ 9: Khát vọng sống hết mình trong tình yêu: khát vọng hóa thân thành sóng để bất tử hóa tình yêu.

Tóm lại: Hành trình của “sóng” của tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu có sự vận động nhất quán, đó là cuộc hành trình có khởi đầu là sự từ bỏ cái chật chội, nhỏ hẹp để tìm đến một tình yêu bao la, rộng lớn, cuối cùng là khát vọng được sống hết mình trong tình yêu, muốn hóa thân thành tình yêu muôn thuở.

c. Nghệ thuật

+ Thể thơ năm chữ truyền thống; cách ngắt nhịp, gieo vần độc đáo, giàu sức liên tưởng.

+ Xây dựng hình tượng ẩn dụ, giọng thơ tha thiết.

3. Ý nghĩa văn bản

Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng sóng: tình yêu thiết tha, nồng nàn, đầy khát vọng và sắt son chung thủy, vượt lên mọi giới hạn của đời người.

 

 

                                          

 

                                      ĐÀN GHI-TA CỦA LOR-CA

 

                                                                      Thanh Thao    

Phần I: Tìm hiểu khái quát

a. Tác giả

-Thanh Thảo tên khai sinh là Hồ Thành Công. Ông sinh năm 1946, quê ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

 

-Sau khi tốt nghiệp Đại học, ông tham gia kháng chiến chống Mĩ ở chiến trường miền Nam.

-Thanh Thảo là một gương mặt tiêu biểu trong thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ, những người vừa cầm bút, vừa cầm súng.

-Thơ Thanh Thảo thường được gợi cảm hứng từ những nhân cách lớn mà ông hết lòng ngưỡng mộ

-Thanh Thảo là một trong những nhà thơ đi tiên phong trên con đư ờng đ ổi mới thơ ca, đổi mới tư duy nghệ thuật, đặc biệt ở giai đoạn văn học sau 1975

 

b. Tác phẩm chính

-Những người đi tới biển (1977)

-Dấu chân qua trảng cỏ (1978)

-Khối vuông ru-bic (1985)

c. Hoàn cảnh sáng tác tác phẩm (xuất xứ)

-Bài thơ Đàn ghi-ta của Lorca được trích ra từ tập thơ Khối vuông rubic (1985).

-Đặc đi ểm thi pháp: Bài thơ mang đ ậm dấu ấn của trường phái siêu thực, có sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và bút pháp siêu thực, trong đó bút pháp siêu thực đư ợc xem là một hướng thể nghiệm của nhà thơ trên con đư ờng cách tân hình thức biểu đạt thơ ca.

Phần II: Nội dung và nghệ thuật

a. Đoạn một (sáu dòng thơ đầu):

-          Những tiếng đàn bọt nước: +tiếng đàn: âm thanh

+bọt nước: hình ảnh. Bọt nước là cái mong manh, dễ vỡ, cái không nắm giữ được.

→Hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dụ: cuộc đời của Lorca cũng mong manh như bọt nước.

-Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt +Tây Ban Nha: hoán dụ chỉ Lorca

+ áo choàng đỏ gắt: gợi liên tưởng đến những đấu sĩ bò tót

→Lorca trở thành một biểu tượng của đất nước Tây Ban Nha. Lorca là một hiệp sĩ trên đấu trường xã hội dữ dội, là người chiến sĩ đi tiên phong đ ấu tranh cho tự do, dân chủ, chống lại đ ộc tài, phát xít, đ ấu tranh cho khát vọng cách tân nghệ thuật, chống lại nền nghệ thuật cũ kĩ, già nua.

-     Dòng thơ thứ ba: li-la li-la li-la

Đây là một chuỗi âm tiết mô phỏng âm thanh tiếng đàn. Theo lí gi ải của Thanh Thảo, đó chính là một đoạn tremolo- kĩ thuật tạo hiệu ứng kéo dài cho tiếng ghi-ta -Ba dòng thơ cuối:

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn

+Những dòng thơ thiếu vắng chủ ngữ, chỉ có vị ngữ và hai trạng ngữ tạo ra sự lỏng lẻo trong cấu trúc câu. Đó là một biểu hiện của cấu trúc thơ siêu thực.

+ Chủ ngữ trong văn cảnh này là Tây Ban Nha, tức là ngưởi nghệ sĩ- chiến sĩ Lorca.

+ vầng trăng: cái đẹp, nghệ thuật

Chếnh choáng: ngây ngất, say mê

→trạng thái thăng hoa trong cảm xúc nghệ thuật

+          đi lang thang: đi không có chủ đích, không có sự sắp đặt. Phải chăng đó là bước chân của người nghệ sĩ siêu thực trên hành trình sáng tạo?

+          về miền đơn độc: trạng thái cô đơn

b. Đoạn hai (mười hai dòng thơ tiếp theo):

- Hai trạng thái đối lập: hát nghêu ngao><áo choàng bê bết đỏ

+       hát nghêu ngao: Lorca là người nghệ sĩ tự do, vô tư

+        áo choàng bê bết đỏ: từ láy bê bết gợi màu đỏ của máu thấm ướt đẫm chiếc áo choàng.

+       bỗng kinh hoàng: đột ngột, bất ngờ

-       Tư thế của người nghệ sĩ- chiến sĩ lúc bị hành hình: đi như người mộng du→ vẫn đang say sưa với nghệ thuật, với lí tưởng tranh đấu. Lorca đã dâng hiến cả những hơi thở cuối cùng của mình để sáng tạo nghệ thuật.

 

- Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Lorca:

+       điệp ngữ tiếng ghi ta là hoán dụ chỉ Lorca. Mỗi lần điệp ngữ được lặp lại là một quãng đời của Lorca được nhắc đến.

+       Hình ảnh siêu thực ở đoạn thơ này được tạo ra từ một loạt những phức hợp hoán dụ tu từ và ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.

.tiếng ghi ta nâu: màu của đất đai giản dị màu sôcôla- biểu tượng của tình yêu.

→hình ảnh Lorca trẻ trung, say đắm trong tình yêu và gắn bó máu thịt với mảnh đất quê hương.

.tiếng ghi ta lá xanh biết mấy: quãng đời tươi trẻ, tài năng và khát vọng đều đang ở đỉnh cao. “biết mấy” là từ tình thái chỉ thái độ tiếc nuối, xót xa.

.tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan: sự nghiệp nghệ thuật của Lorca đang đạt tới đỉnh cao thành tựu thì Lorca bị giết hại.

.tiếng ghi ta ròng ròng- máu chảy: ẩn dụ bổ sung và câu thơ vắt dòng tạo ấn tượng về dòng máu xối xả vẫn đang tuôn trào, nhức nhối.

Ý chuyển: Nỗi đau trước cái chết của Lorca vẫn còn đó, vẫn làm nhói lòng người đọc. Nhưng Thanh Thảo không chỉ nhìn cái chết ấy dưới góc đ ộ một bi kịch mà còn nhìn ở góc độ khác. Cách nhìn áy được bộc lộ ở mười ba dòng thơ cuối, nhà thơ trình bày những suy ngẫm, cảm xúc của mình về cuộc đời, sự nghiệp và cách ra đi của Lorca.

c. Đoạn ba (mười ba dòng thơ cuối):

-Sự chua xót cho tâm nguyện chưa thành của Lorca: không ai chôn cất tiếng đàn-tiếng đàn như cỏ mọc hoang

+tâm nguyện của Lorca: “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghi ta”. Với tư cách là một người đi tiên phong trên con đường đổi mới, Lorca luôn cổ vũ cho sự tiến bộ, ông muốn thế hệ sau vượt qua mình để tiếp tục đạt tới những thành tựu cao hơn.

+Thực tế: sau cái chết của Lorca (1939), phe Cộng hòa thất bại. Bè lũ phát xít mà đứng đầu là Frăngco lên nắm quyền, đất nước Tấy Ban Nha bị cai trị bởi chế độ độc tài. Sự nghiệp thơ ca tiến bộ của Lorca đ ã không có đi ều kiện tiếp tục phát triển.

-Lời ngợi ca dành cho sự nghiệp nghệ tuật của Lorca:

+tiếng đàn như cỏ mọc hoang: sự nghiệp của Lorca bất tử như cỏ hoang, thứ cỏ có sức sống mãnh liệt, dồi dào.

-Nỗi đau chưa thể nguôi ngoai, vẻ đẹp còn sáng mãi: +giọt nước mắt: niềm cảm thương, tiếc nuối, nỗi đau. +vầng trăng: cái đẹp, nghệ thuật

→cùng trạng thái: long lanh trong đáy gi ếng: sống động, chưa khô đi, chưa biến mất.

Giọt nước mắt long lanh: nỗi đau vẫn chưa thể nguôi ngoai

Vầng trăng long lanh: cuộc đời và sự nghiệp của Lorca ngời lên vẻ đẹp. -Niềm cảm phục trước thái độ và tư thế ra đi của Lorca:

+Đường chỉ tay đã đứt: số mệnh đã tận cùng, cái chết là điều tất yếu. Đây là cách nhìn nhận về cái chết của Lorca dưới góc độ tâm linh. +cách Lorca đón nhận cái chết của mình:

.dòng sông: ranh giới sinh-tử (theo quan niệm văn hóa phương Đông)

.chiếc ghia ta bạc: con thuyền đưa Lorca về thế giới vĩnh hằng.

          Cùng với cây đàn ấy và cả sự nghiệp nghệ thuật của mình, Lorca đã bơi sang ngang, đã đi từ cõi hữu hạn sang cõi vô hạn, từ cõi trần thế sang cõi vĩnh hằng. Chàng đã không ch ống đ ối, không vùng vẫy kháng lại số mệnh, không cố gắng níu kéo sự sống mà thanh thản ra đi. Chính thái độ bình thản trước cái chết ấy cho thấy sự tự nguyện dấn thân và chấp nhận hi sinh vì lí tưởng của Lorca. Chỉ riêng thái độ ấy thôi, nhân cách của Lorca đã ngời sáng!

+Tư thế ra đi chủ động:

.điệp từ ném diễn tả một động tác từ bỏ mạnh mẽ, dứt khoát. .lá bùa cô gái Di-gan: sinh mệnh trái tim: tình yêu, sự vương vấn

→Lorca đã ch ủ động từ bỏ sinh mệnh của mình, không vương vấn, níu kéo mà thanh thản đi từ cõi trần thế hữu hạn sang cõi vĩnh hằng vô hạn.

-Dòng thơ cuối: li-la li-la li-la…

+cách hiểu thứ nhất: âm thanh tiếng đàn tiếp tục lan tỏa, bất chấp việc Lorca bị sát hại một cách thảm khốc.

       Sự bất tử của Lorca và sự nghiệp của Lorca

+cách hiểu thứ hai: hoa tử đinh hương. Những vòng hoa người đời dâng lên Lorca với lòng thành kính, ngưỡng mộ và yêu mến.

+dấu ba chấm cuối dòng thơ: sự lan tỏa. Nhà thơ gởi gắm niềm tin vào những giá trị bất tử.

 

 

                                   NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

 

                                                                 -Nguyễn Tuân-

Phần I: Tìm hiều khái quát

a. Tác giả:

-Nguyễn Tuân (1910-1987), Hà Nội.

-Xuất thân gia đình: Cha Nguyễn Tuân là cụ Nguyễn An Lan, một nhà nho tài hoa đậu khoa thi Hán học cuối cùng, nhưng cũng là một nhà nho bất đắc chí dưới chế độ thực dân phong kiến.

-Nguyễn Tuân là người giàu lòng yêu nước. Ông luôn yêu mến, tự hào và nâng niu những nét đẹp trong văn hóa cổ truyền của dân tộc.

-Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, Nguyễn Tuân đi theo cách mạng, tham gia vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Ông đã đem ngòi bút của mình ngợi ca đất nước và con người Việt Nam trong chiến đấu, sản xuất.

-Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển rất cao, đến độ ngông ngạo với đời.

-Nguyễn Tuân là một nhà văn tài hoa uyên bác và biết quý trọng nghề văn.

b. Tác phẩm tiêu biểu:

-Vang bóng một thời (truyện ngắn) (1940)

-Sông Đà (tùy bút) (1960)

-Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (kí) (1972)

c. Hoàn cảnh sáng tác tác phẩm:

-Sông Đà (1960) là kết quả thu được sau chuyến đi thực tế lên miền núi Tây Bắc để khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên và con người nơi đấy, ngợi ca công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Phần II: Nội dung và nghệ thuật

Hình tượng con sông Đà:

Con sông Đà hùng vĩ, hung bạo            

– Con sông Đà hũng vĩ, hung bạo được tác giả khắc họa theo trình tự không gian, bằng nhiều chi tiết đặc sắc. Trước hết Sông Đà hùng vĩ ở cảnh “đá bờ sông dựng vách thành”, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc “đúng ngọ” (lúc giữa trưa) mới có mặt trời. Có vách đá chẹt lòng sông “như một cái yết hầu”, có quãng con nai, con hổ có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Vì lòng sông hẹp, bờ sông là vách đá cao, nên ngồi trong khoang đò ở quãng sông ấy “đang mùa hè mà cũng thấy lạnh.”

–Dòng chảy sông Đà:

quãng mặt ghềnh Hát Loóng với hàng cây số “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm”. Đây là nơi nguy hiểm, người lái đ ò nào đi qua khúc sông này mà không th ận trọng tay lái thì “dễ lật ngửa bụng thuyền ra”.

– Sông Đà hùng vĩ còn ở những cái “hút nước” trên sông ở quãng Tà Mường Vát. Đó là những xoáy nước khổng lồ, được tác giả so sánh “giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”. Nước ở đây “thở và kêu như của cống cái bị sặc”. Đây là nơi r ất nguy hiểm, không có thuyền nào dám men gần những cái “hút nước” ấy. Có những thuyền đ ã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay “cây chuối ngược” rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy “tan xác” ở khuỷnh sông dưới. Tác giả đã tưởng tượng: có người quay phim táo tợn, ngồi trên chiếc thuyền thúng, rồi xuống đáy “cái hút” Sông Đà mà thu hình thì sẽ có những thước phim ấn tượng, gây cảm giác sợ hãi cho người xem.

– Nhưng hùng vĩ nhất, hung bạo nhất là thác Sông Đà. Thác Sông Đà có âm thanh dữ dội, nhiều vẻ, được tác giả miêu tả: Còn xa lắm mới đến cái thác dưới mà đã nghe thấy tiếng nước “réo gần mãi lại, réo to mãi lên”, so sánh đ ộc đáo: tiếng nước thác nghe như là “oán trách”, như là “van xin”, như là “khiêu khích”, rồi rống lên “như tiếng một ngàn con trâu mộng” gầm thét khi rừng bị cháy.

– Hình ảnh thác Sông Đà là c ả một “chân trời đá”. M ỗi hòn đá mang một dáng vẻ, nhưng mặt hòn đá nào trong cũng “ng ỗ ngược… nhăn nhúm, méo mó”. Sông Đà hình như đã giao nhiệm vụ cho mỗi hòn đá và bày ra “thạch trận” để gây khó khăn, nguy hiểm cho những con thuyền. “Thạch trận” Sông Đà có ba vòng vây. Vòng thứ nhất, thác Sông Đà m ở ra “năm cửa trận”, có bốn “cửa tử”, một “cửa sinh” nằm lập lờ ở phía tả ngạn. Vòng thứ hai, thác Sông Đà lại “tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền”, cũng chỉ có một “cửa sinh” nhưng lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn. Đến vòng thứ ba, ít cửa hơn nhưng bên phải, bên trái đều là “luồng chết” cả, cái “luồng sống” ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác.

– Thác Sông Đà qu ả thực đã tr ở thành một loài thủy quái khổng lồ với tâm đ ịa độc ác. Với đặc điểm này, trong cái nhìn của tác giả, Sông Đà có nhiều lúc đã trở thành “kẻ thù số một” của con người.

Con sông Đà trữ tình, thơ mộng.

Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của Sông Đà được tác giả quan sát và miêu tả ở nhiều góc độ, điểm nhìn, không gian và thời gian khác nhau. Quan sát từ trên cao, Sông Đà có dòng chảy uốn lượn, con sông như mái tóc người thiếu nữ Tây Bắc kiều diễm. Sông Đà “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Nước Sông Đà biến đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng: mùa xuân “dòng xanh ngọc bích”, mùa thu “lừ lừ chín đỏ”. Những chi tiết miêu tả của tác giả gợi lên một liên tưởng thú vị: giữa khung cảnh ngày xuân thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc, Sông Đà hiện lên như một mĩ nhân tràn đầy xuân sắc, một thiếu nữ đương độ xuân thì.

– Sau chuyến đi rừng dài ngày, từ bờ sông, tác giả đã thấy Sông Đà thật gợi cảm “như một cố nhân”. Nhìn mặt nước Sông Đà thấy “loang loáng như như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy”. Đó là “màu n ắng tháng ba Đường thi”, cùng với hình ảnh bờ Sông Đà, bãi Sông Đà đ ầy những “chuồn chuồn bươm bướm” tạo nên một cảnh sắc hấp dẫn. Nhà văn đã b ộc lộ cảm xúc khi nhìn con sông bằng những so sánh tài hoa: “Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”

– Khi đi trên thuy ền, tác giả thấy cảnh vật hai bên bờ Sông Đà v ừa hoang sơ nhuốm màu cổ tích vừa trù phú, tràn trề nhựa sống. Ven sông có những nương ngô “nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”, có cỏ gianh đồi núi “đang ra những nõn búp”, có “đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm”. Nhà văn đ ã có một liên tưởng đ ộc đáo: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Dòng sông quãng này “lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc”.

 

2. Hình tượng người lái đò sông Đà:

 a. Giới thiệu chung về người lái đò:

– Cuộc sống của người lái đò là “cuộc chiến đấu” hằng ngày với thiên nhiên Tây Bắc, có nhiều lúc trông nó ra thành diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một của con người. Trong cuộc mưa sinh đày gian khổ ấy, phẩm chất của người lái đò được bộc lộ một cách rõ nét, thể hiện qua “cuộc chiến đ ấu gian lao” trên chiến trường Sông Đà, trên một quãng thủy chiến ở mặt trận Sông Đà.

b. Người lái đò trí dũng, tài ba, giàu bản lĩnh và kinh nghiệm:

– Phẩm chất của người lái đ ò đư ợc thể hiện qua cuộc vượt tác sông Đà. Thác Sông Đà bày ra “thạch trận” với ba vòng vây đ ể tiêu diệt con thuyền. Nhưng người lái đò dũng cảm, bình tĩnh, hiên ngang vượt qua từng vòng vây của thác.

– Ở vòng vây thứ nhất: Thác Sông Đà m ở ra “năm của trận”, có bốn “cửa tử”, một “cửa sinh”. Cửa sinh nằm “lập lờ ở phía tả ngạn”. Khi con thuyền xuất hiện, phối hợp với đá, nước thác reo hò làm “thanh viện” cho đá, những hòn đá bệ vệ oai phong lẫm liệt. Có hòn đá trông nghiêng thì y nh ư là đang h ỏi cái thuyền “phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến”. Hòn đá khác thì lùi l ại một chút và “thách thức” cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào. Không một chút nao núng, ông đò hai tay giữ mái chèo đ ể khỏi bị hất lên khi sóng trận đ ịa phóng thẳng vào mình. Nhìn thấy con thuyền và người lái đò, mặt nước “hò la vang dậy”, ùa vào mà “bẻ gãy cán chèo”, võ khí của người lái đò. Sóng nước thì như thể quân liều mạng, vào sát nách mà “đá trái mà thúc gối” vào bụng và hông thuyền, có lúc chúng “đội cả thuyền lên”. Nước bám lấy thuyền như đô v ật “túm lấy thắt lưng ông đ ò đòi l ật ngửa mình ra”… Ông đò đã bị thương, nhưng ông “cố nén vết thương”, hai chân vẫn “kẹp chặt lấy cuống lái”. Cuộc chiến đã đến hồi quyết liệt, sóng nước “đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm” vào chỗ hiểm. Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy “ngắn gọn tỉnh táo” của người cầm lái. Và ông lái đ ò đã phá xong cái “trùng vi thạch trận” vòng thứ nhất của thác Sông Đà.

– Không một chút nghỉ tay, ông lái đò tiếp tục phá luôn vòng vây thứ hai của thác Sông Đà. Ở vòng thứ hai này, thác Sông Đà lại “tăng thêm nhiều cửa tử” để đánh lừa con thuyền. Vẫn chỉ có một cửa sinh. Nếu ở vòng thứ nhất, cửa sinh nằm “lập lờ phía tả ngạn”, thì ở vòng thứ hai này, cửa sinh lại “bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn”. Đó chính là khó khăn, thách th ức đối với người lái đò. Nh ưng ông lái đ ò đã “thuộc qui luật phục kích” của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. Ông hiểu rằng cưỡi lên thác Sông Đà phải “cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”. Cuộc chiến của ông lái đò ở vòng thứ hai đã bắt đầu. Nắm chặt cái bờm sóng đúng luồng, ông đò ghì cương lái bám chắc lấy luồng nước đúng mà “phóng nhanh vào cửa sinh” rồi “lái miết một đường chéo” về phía cửa đá ấy. Thấy con thuyền tiến vào, bốn năm bọn thủy quân bên bờ trái liền “xô ra” định níu con thuyền “lôi vào tập đoàn c ửa tử” mà tiêu diệt. Nhưng ông lái đò vẫn “nhớ mặt” bọn này, đứa thì ông tránh mà “rảo bơi chèo lên”, đứa thì ông “đè sấn lên mà chặt đôi ra” đ ể mở đường tiến. Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền, chỉ còn vẳng tiếng reo hò của của sóng thác luồng sinh. Tuy vậy, bọn chúng vẫn “không ngớt khiêu khích”, dù cái thằng đá tướng đứng ở cửa vào đã “tiu nghỉu cái mặt xanh lè” vì bị thua cái thuyền du kích nhỏ bé.

– Vượt qua vòng thứ hai, ông lái đò còn phải vượt qua vòng thứ ba nữa. Ở vòng vây thứ ba này, thác Sông Đà ít c ửa hơn nhưng bên phải bên trái đều là “luồng chết” cả. Cái “luồng sống” ở chặng thứ ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ. Ông lái đ ò đã hi ểu đi ều đó. Ông c ứ “phóng thẳng thuyền” chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền của ông đò “vút qua” c ổng đá cánh m ở cánh khép với ba tầng cửa: cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng. Con thuyền của ông đò “như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái lượn được”. Vượt qua vòng vây thứ ba cũng là vượt qua hết thác Sông Đà. Ông lái đò như một người chỉ huy lão luyện, đầy bản lĩnh và kinh nghiệm. Ông là một nghệ sĩ tài hoa với nghề chèo đò vượt thác.

c.Ý nghĩa hình tượng

Bằng nhiều biện pháp nghệ thuật, nhà văn Nguyễn Tuân đã khắc họa thành công hình ảnh người lái đ ò Sông Đà dũng c ảm, tài năng, đ ầy bản lĩnh và kinh nghiệm. Qua hình tượng người lái đò, tác giả ngợi ca người lao động Tây Bắc với những phẩm chất cao quí.

Hình tượng người lái đò, cũng thể hiện quan niệm của nhà văn: người anh hùng không chỉ có trong chiến đấu mà còn có trong cuộc sống lao đ ộng thường ngày. Hình tượng người lái đ ò trong bài tùy bút của Nguyễn Tuân gợi ra ở mỗi chúng ta suy nghĩ về nhiệm vụ của mình trong công cuộc xây dựng Tổ quốc Việt Nam yêu quí.

3. Đặc sắc nghệ thuật

-Thể văn tùy bút đầy phóng túng, đậm chất tài hoa nghệ sĩ -Hình tượng nhân vật có cá tính độc đáo.

-Ngôn ngữ phong phú, giàu chất nhạc, giàu hình ảnh.

                                          AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG

                                                              -Hoàng Phủ Ngọc Tường-

Phần I: Tìm hiểu khái quát

a. Tác giả:

-Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh ngày 9-9-1937 tại thành phố Huế. Quê gốc ở làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

-Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn khóa I, ban Việt Hán năm 1960; là cử nhân triết học Đ ại học Văn khoa Huế năm 1964; dạy học tại trường Quốc học Huế từ năm 1960-1966.

-Từ năm 1963, Hoàng Phủ Ngọc Tường tham gia phong trào yêu nước của sinh viên học sinh và trí thức Huế với tư cách là Tổng thư kí Tổng hội sinh viên Huế. -Từ 1966-1975, ông tham gia kháng chiến chống Mĩ.

-Sau 1975, Hoàng Phủ Ngọc Tường hoạt động viết văn, làm báo. Ông được nhà

nước tặng Huân chương Độc lập hạng 3. Hiện ông đã nghỉ hưu và sống tại Huế.

-Hoàng Phủ Ngọc Tường sáng tác nhiều thể loại, thành công ở cả thơ và xăn xuôi

nhưng đạt được thành tựu lớn là ở thể kí. Ông đã được Giải thưởng Hội Nhà văn

Việt Nam 1980 với tác phẩm “Rất nhiều ánh lửa”

-Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn có nhiều đóng góp cho văn h ọc sau 1975, đặc biệt ở thể kí.

-Đặc điểm phong cách:

“Hoàng Phủ Ngọc Tường chuyên tâm tìm tòi trên thể kí. Tác giả theo đuổi thể kí với tư cách là một nghệ sĩ bút kí, trau dồi nó trên phong cách riêng. Nhịp điệu văn kí của ông rất chậm rãi. Khác với kí Nguyễn Tuân đ ầy chất văn xuôi, xương xẩu, gồ ghề với cái nhìn hóm hỉnh, bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường nghiêng về chất thơ thi vị ngọt ngào”.

 

(Trần Đình Sử, Lí luận và phê bình văn học, NXB Hội Nhà văn, H., 1996)

b. Tác phẩm chính:

-Thơ: Những dấu chân qua thành phố (1976), Người hái phù dung (1995)

-Bút kí: Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1972), Rất nhiều ánh lửa (1979), Ai đã đặt tên cho dòng sông (1984),…

c. Hoàn cảnh sáng tác tác phẩm (xuất xứ):

-Tác phẩm rút ra từ tập bút kí cùng tên, sáng tác vào ngày 4-1-1981, in thành tập bút kí năm 1986. Tác phẩm gồm ba đoạn, đây là một phần của đoạn đầu.

Phần II: Nội dung và nghệ thuật

1.Nội dung: Vẻ đẹp của sông Hương qua các góc nhìn khác nhau.

 a. Vẻ đẹp của sông Hương nhìn từ thủy trình của dòng sông

* Sông Hương ở thượng nguồn

-Ngược dòng sông Hương, cùng tác giả trở về với thượng nguồn Trường Sơn, người đ ọc ngạc nhiên đến thú vị trước những nét tính cách của sông Hương mà nhà văn thể hiện trong tác phẩm.

+ Sông Hương đ ã là một bản trường ca rầm rộ, …mãnh liệt…cuộn xoáy. Đó là sức mạnh hùng vĩ, man dại của dòng sông – nét mới mẻ, thú vị.

+ Chảy giữa dặm dài chói lọi của hoa đ ỗ quyên rừng – trong cái lạnh lẽo xuất hiện ngọn lửa ấm nóng khiến con sông rực rỡ, tỏa sáng.

+ “Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái di gan phóng khoáng và man dại…Rừng già đ ã hun đúc cho nó m ột bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do trong sáng”.

+ “Ra khỏi rừng sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”.

– Nhận xét: Bằng những hình ảnh đ ầy ấn tượng kết hợp với việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa, Hoàng Phủ Ngọc Tường đ ã gợi ra tính cách “man dại “, “mãnh liệt” của sông Hương ở thượng nguồn. Chính bởi lẽ đó mà nhà văn nhắc nhở ta ý nghĩ rằng “người ta sẽ không hiểu đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình đầy gian truân mà nó đã vượt qua, không thấu hiểu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đ ã đóng kín l ại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”.

* Sông Hương ở ngoại vi thành phố Huế.

– Xuôi dòng Hương giang về vùng đồng bằng và ngoại vi thành phố Huế, sông Hương lại mang vẻ đẹp khác, một nét đẹp quyến rũ mềm mại hứa hẹn những điều thú vị qua so sánh: người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng.

– Dòng sông đ ổi dòng liên tục – như một sự trăn trở : “sông Hương đ ã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đ ột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm …”, “sông Hương đi trong dư vang của Trường Sơn, vòng qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản…”

– Màu nước biến ảo: sớm xanh, trưa vàng, chiều tím. * Sông Hương khi chảy vào lòng thành phố

- Sông Hương được ví như người tình của xứ Huế.


 

+           “Sông Hương vui tươi hẳn lên…đông bắc” –> nhà văn cảm nhận sông Hương như một thực thể sống động, có niềm tin, tâm trạng khi tìm lại được chính mình

+          “Chiếc cầu trắng… lời của tình yêu”. –> vẻ đẹp thanh thoát của sông Hương và cầu Tràng Tiền được miêu tả qua nghệ thuật so sánh tài hoa.

+           “Không giống như sông Xen…yêu quý của mình” –> niềm tự hào của tác giả khi so sánh sông Hương với các con sông nổi tiếng trên thế giới.

+           Sông Hương – “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”, sông Hương chảy chậm, điệu chạy lững lờ vì nó quá yêu thành phố của mình. –> chất âm nhạc thể hiện ở nhịp đi ệu êm đ ềm của bài bút kí bởi những câu văn dài nối tiếp nhau. Nhà văn liên tưởng đến dòng sông Nê va cảu Lê-nin-grat…

* Sông Hương rời thành phố Huế

– “Rời khỏi kinh thành …thị trấn Bao Vinh xưa cổ…”:

Sông Hương giống như một người tình bịn rịn, lưu luyến khi tạm biệt cố nhân.

b. Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn lịch sử dân tộc

– Sông Hương trở thành dòng linh giang của tổ quốc, chứng nhận lịch sử cho bao sự kiện thăng trầm của dân tộc, sông Hương là dòng sống của thời gian ngân vang của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc.

+ Trong sách Dư địa lí của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông Viễn Châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt

+ Sông Hương sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ XIX với máu của những cuộc khởi nghĩa và từ đấy sông Hương đ ã đi vào thời đại cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển.

+ Về với đời thời, sông Hương trở thành người con gái dịu dàng của xứ sở.

c. Vẻ đẹp của sông Hương nhìn ở góc độ văn hóa thi ca

– Sông Hương sinh thành toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế: “Hình như trong khoảnh khắc chùng lại…mái chèo khuya”

– Nguyễn du đã lấy cảm hứng từ điệu “Tứ đại cảnh” và thi hào từng bao lần lênh đênh trên quãng sông này: “Nguyễn Du…trăng sầu”

-Sông Hương là dòng sông thi ca, là cảm, hứng bất tận cho các nhà văn nghệ sĩ. + “Dòng sông trắng-lá cây xanh” trong cái nhìn của Tản Đà

+”Kiếm dựng trời xanh” trong khí phách của Cao Bá Quát

2. Các biện pháp nghệ thuật

 a. Biện pháp nhân hóa:

-Có khi sông Hương là “một cô gái Di-gan phóng khoảng và man dại”, “một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”.

-Có khi sông Hương là “mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”.

-Có lúc sông Hương trở thành “một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya.”

*Biện pháp so sánh:

-“Dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược như những con thoi”.

-“… Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non”.

 

-“Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu”.

*Những liên tưởng phong phú, bất ngờ:

-Liên tưởng dòng sông, thiên nhiên Huế với cảnh sắc trong Truyện Kiều.

-Liên tưởng sông Hương với tính cách nàng Kiều.

*Một văn phong giàu chất thơ:

-Chất thơ thoát ra từ thiên nhiên cảnh vật, từ tâm hồn con người và từ những huyền thoại nhà văn sử dụng đúng chỗ.

 

 

                                          

 

VỢ CHỒNG A PHỦ

(Tô Hoài)

I. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

Tô Hoài (1920 – 2014) là nhà văn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Ông là nhà văn có vốn hiểu biết phong phú về phong tục tập quán nhiều vùng miền của nước ta. Tô Hoài có lối văn kể chuyện tự nhiên, sinh động, ngôn ngữ tài ba. Truyện ngắn “VCAP” là tác phẩm tiêu biểu, được in trong tập “Truyện Tây Bắc”. Tác phẩm phản ánh cuộc sống tăm tối tủi nhục của người dân nghèo trước ách áp bức của bọn cường hào và sức sống mãnh liệt tiềm tàng nơi họ.

II. TÌM HIỂU NHÂN VẬT MỊ

1. Cách giới thiệu nhân vật Mị  của tác giả rất độc đáo:

- Ngay từ những dòng đầu tiên, tác giả tả Mị ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa… “Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nưóc dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi’

- Mị xuất hiện không phải ở phía chân dung ngoại hình mà ở phía thân phận- một thân phận quá nghiệt ngã- một con người bị xếp lẫn với những vật vô tri giác : tảng đá, tàu ngựa… trong khung cảnh đông đúc tấp nập của gia đình nhà thống lí Pá tra

- NT đối cho thấy con dâu trong một gia đình quyền thế, giàu có nhưng lúc nào cũng cúi mặt, buồn rười rượi.

-> Đây chính là thủ pháp tạo tình huống trong lối kể chuyện truyền thống thôi thúc người đọc tìm hiểu bí ẩn số phận nhân vật.

2.Trước khi về làm dâu:

- Mị xinh đẹp, hiếu thảo, siêng năng cần cù, thổi sáo hay, có nhiều người thồi sáo đi theo Mị, trai đến đứng nhẵn vách đầu buồng Mị. Mị đã yêu và được yêu.

- Mị có cảnh ngộ éo le: cha Mị thiếu nợ nhà thống lí nên Mị phải làm con dâu để trừ nợ.

- Mị đã nghĩ cách cứu mình, Mị van cha: “Con nay  đã biết cuốc nương làm ngô. Con phải làm nương để giả nợ thay bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”-> Sự thông minh và hiếu thảo của Mị không thắng được hoàn cảnh và mưu chước thâm độc của cha con nhà thống lí. Mị bị bắt về làm dâu nhà Thống lí .

3.Khi về làm dâu:

a. Mị  bị đày đoạ về thể xác lẫn tinh thần

- Mị phải sống với kẻ mà mình không yêu, bị tròng hai thứ dây trói: làm con nợ và làm con dâu. Con nợ bình thường còn hi vọng thoát ra khi đã trả hết nợ nhưng làm con dâu thì Mị phải kéo lê thân phận khốn khổ của mình đến tàn đời.Ban đầu, Mị rất buồn đau “Đêm nào Mị cũng khóc”. Mị định ăn lá ngón tự tử. Chính khát vọng được sống một cuộc sống đúng nghĩa   khiến Mị không muốn chấp nhận cuộc sống bị chà đạp, lầm than, tủi cực, bị đối xử bất công như một con vật. Mị về lạy cha. Nhưng rồi thương cha, Mị đành nén nỗi đau buồn riêng và quay trở lại nhà thống lí. Mị sống âm thầm lặng lẽ với cuộc sống đầy tủi nhục."Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa"

- Mị bị biến thành một thứ công cụ lao động. Mị phải làm việc quần quật như một nô lệ  “Con trâu, con ngựa còn có lúc đêm nó được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ. Đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả ngày cả đêm” 

   + Mị không nói, chỉ "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa". Mị bị cầm tù trong ngục thất tinh thần, nơi lui vào lui ra chỉ là "một căn buồng kín mít chỉ có một chiếc cửa sổ, một lỗ vuông bằng bàn tay" . Đã bao năm rồi, Mị chẳng biết đến mùa xuân, chẳng đi chơi tết…

 b. Mị sống mà như đã chết:

       Tác giả cắt nghĩa: "Sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi" Mị bị đày đọa đến mức tê liệt tinh thần. Mị buông xuôi phó mặc cho hoàn cảnh.  Mị không còn ý thức được về thời gian, tuổi tác và cuộc sống. Mị sống như một cỗ máy, một thói quen vô thức. Mị vô cảm, không tình yêu, không khát vọng, thậm chí không còn biết đến khổ đau.Cô sống trong tuyệt vọng. Sống mà như chết. Điều đó có sức ám ảnh đối với độc giả, gieo vào lòng người những xót thương.

 -> Bằng NT miêu tả tâm lí tài tình, giọng văn ngậm ngùi, nhà văn diễn tả khá cụ thể nỗi khổ của Mị và sự bóc lột dã man của giai cấp thống trị miền núi.

 II. Khi mùa xuân về Hồng Ngài: Sức sống tiềm tàng trong Mị bỗng hồi sinh

1. Cảnh mùa xuân được nhà văn miêu tả tràn đầy sức sống. Không khí tưng bừng rộn rã của trai làng đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi kèn. Màu sắc rực rỡ của những chiếc váy hoa đem ra phơi xòe trên mỏm đá. Âm thanh réo rắt mời gọi bạn tình thiết tha bồi hồi lơ lửng trong không gian. 

-> Ngôn từ giản dị, mộc mạc, đậm chất dân tộc. Cuộc sống tự do, phóng khoáng và cảnh mùa xuân tươi vui nhộn nhịp  đã tác động  vào tâm hồn Mị làm trỗi dậy trong cô lòng ham sống và khát vọng hạnh phúc .

1. Cách giới thiệu nhân vật Mị  của tác giả rất độc đáo:

- Ngay từ những dòng đầu tiên, tác giả tả Mị ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa… “Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nưóc dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi’

- Mị xuất hiện không phải ở phía chân dung ngoại hình mà ở phía thân phận- một thân phận quá nghiệt ngã- một con người bị xếp lẫn với những vật vô tri giác : tảng đá, tàu ngựa… trong khung cảnh đông đúc tấp nập của gia đình nhà thống lí Pá tra

- NT đối cho thấy con dâu trong một gia đình quyền thế, giàu có nhưng lúc nào cũng cúi mặt, buồn rười rượi.

-> Đây chính là thủ pháp tạo tình huống trong lối kể chuyện truyền thống thôi thúc người đọc tìm hiểu bí ẩn số phận nhân vật.

2.Trước khi về làm dâu:

- Mị xinh đẹp, hiếu thảo, siêng năng cần cù, thổi sáo hay, có nhiều người thồi sáo đi theo Mị, trai đến đứng nhẵn vách đầu buồng Mị. Mị đã yêu và được yêu.

- Mị có cảnh ngộ éo le: cha Mị thiếu nợ nhà thống lí nên Mị phải làm con dâu để trừ nợ.

- Mị đã nghĩ cách cứu mình, Mị van cha: “Con nay  đã biết cuốc nương làm ngô. Con phải làm nương để giả nợ thay bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”-> Sự thông minh và hiếu thảo của Mị không thắng được hoàn cảnh và mưu chước thâm độc của cha con nhà thống lí. Mị bị bắt về làm dâu nhà Thống lí .

3.Khi về làm dâu:

a. Mị  bị đày đoạ về thể xác lẫn tinh thần

- Mị phải sống với kẻ mà mình không yêu, bị tròng hai thứ dây trói: làm con nợ và làm con dâu. Con nợ bình thường còn hi vọng thoát ra khi đã trả hết nợ nhưng làm con dâu thì Mị phải kéo lê thân phận khốn khổ của mình đến tàn đời.Ban đầu, Mị rất buồn đau “Đêm nào Mị cũng khóc”. Mị định ăn lá ngón tự tử. Chính khát vọng được sống một cuộc sống đúng nghĩa   khiến Mị không muốn chấp nhận cuộc sống bị chà đạp, lầm than, tủi cực, bị đối xử bất công như một con vật. Mị về lạy cha. Nhưng rồi thương cha, Mị đành nén nỗi đau buồn riêng và quay trở lại nhà thống lí. Mị sống âm thầm lặng lẽ với cuộc sống đầy tủi nhục."Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa"

- Mị bị biến thành một thứ công cụ lao động. Mị phải làm việc quần quật như một nô lệ  “Con trâu, con ngựa còn có lúc đêm nó được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ. Đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả ngày cả đêm” 

   + Mị không nói, chỉ "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa". Mị bị cầm tù trong ngục thất tinh thần, nơi lui vào lui ra chỉ là "một căn buồng kín mít chỉ có một chiếc cửa sổ, một lỗ vuông bằng bàn tay" . Đã bao năm rồi, Mị chẳng biết đến mùa xuân, chẳng đi chơi tết…

 b. Mị sống mà như đã chết:

       Tác giả cắt nghĩa: "Sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi" Mị bị đày đọa đến mức tê liệt tinh thần. Mị buông xuôi phó mặc cho hoàn cảnh.  Mị không còn ý thức được về thời gian, tuổi tác và cuộc sống. Mị sống như một cỗ máy, một thói quen vô thức. Mị vô cảm, không tình yêu, không khát vọng, thậm chí không còn biết đến khổ đau.Cô sống trong tuyệt vọng. Sống mà như chết. Điều đó có sức ám ảnh đối với độc giả, gieo vào lòng người những xót thương.

 -> Bằng NT miêu tả tâm lí tài tình, giọng văn ngậm ngùi, nhà văn diễn tả khá cụ thể nỗi khổ của Mị và sự bóc lột dã man của giai cấp thống trị miền núi.

 II. Khi mùa xuân về Hồng Ngài: Sức sống tiềm tàng trong Mị bỗng hồi sinh

1. Cảnh mùa xuân được nhà văn miêu tả tràn đầy sức sống. Không khí tưng bừng rộn rã của trai làng đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi kèn. Màu sắc rực rỡ của những chiếc váy hoa đem ra phơi xòe trên mỏm đá. Âm thanh réo rắt mời gọi bạn tình thiết tha bồi hồi lơ lửng trong không gian. 

-> Ngôn từ giản dị, mộc mạc, đậm chất dân tộc. Cuộc sống tự do, phóng khoáng và cảnh mùa xuân tươi vui nhộn nhịp  đã tác động  vào tâm hồn Mị làm trỗi dậy trong cô lòng ham sống và khát vọng hạnh phúc .

2. Trong đêm tình mùa xuân năm đó, tâm trạng và hành động của Mị cũng có nhiều thay đổi

Mị uống rượu: Rượu là chất xúc tác trực tiếp để tâm hồn yêu đời, khát sống của Mị trỗi dậy. "Mị lén lấy hũ rượu và uống  ực từng bát một". Mị vừa như uống cho hả giận vừa như uống hận, nuốt hận. Hơi men đã dìu tâm hồn Mị theo tiếng sáo.

Mị nghe tiếng sáo gọi bạn yêu lơ lửng bay:  "Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha, bổi hổi. Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi".-> Tô Hoài đã miêu tả tiếng sáo như một dụng ý nghệ thuật để lay tỉnh tâm hồn Mị. Tiếng sáo là biểu tượng của khát vọng tình yêu tự do, đã theo sát diễn biến tâm trạng Mị, là ngọn gió thổi bùng lên đốn lửa tưởng đã nguội tắt. Thoạt tiên, tiếng sáo còn "lấp ló", "lửng lơ" đầu núi, ngoài đường. Sau đó, tiếng sáo đã thâm nhập vào thế giới nội tâm của Mị và cuối cùng tiếng sáo trở thành lời mời gọi tha thiết để rồi tâm hồn Mị bay theo tiếng sáo.

- Mị nhớ lại quá khứ,  đó là dấu hiệu đầu tiên của việc sống lại . Mị nhớ về hạnh phúc ngắn ngủi trong cuộc đời tuổi trẻ của mình “Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. thổi lá cũng hay như thổi sáo”. Và niềm ham sống trở lại "Mị thấy phơi phới trở lại, trong  lòng đột nhiên vui sướng” Mị nhận  thấy rằng : "Mị còn trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ lắm. Mị muốn đi chơi". Tâm hồn Mị thực sự được hồi sinh.

- Thế nhưng, hiện thực đen tối đối lập với quá khứ tươi đẹp. Mơ ước về hạnh phúc khó trở thành sự thực.  Cuộc sống bị đày đoạ về thể xác lẫn tinh thần vẫn hằng ngày  vẫn đeo bám Mị. Bốn bức tường chật chội, tăm tối của  “căn buồng kín mít chỉ có một chiếc cửa sổ, một lỗ vuông bằng bàn tay” vẫn ám ảnh Mị. Nhũng trận đòn dã man của A Sử vẫn đang chực chờ Mị.

- Mị lại muốn chết  "nếu có nắm lá ngón trong tay Mị sẽ ăn cho chết". Mị đã ý thức được tình cảnh đau xót của mình. Những giọt nước mắt tưởng đã cạn kiệt vì đau khổ đã lại có thể lăn dài.

- Từ những sôi sục trong nội tâm  đã dẫn Mị tới hành động.  Mị "lấy ống mỡ sắn một miếng bỏ thêm vào đĩa dầu". Mị muốn thắp lên ánh sáng cho căn phòng bấy lâu chỉ là bóng tối. Mị muốn thắp lên ánh sáng cho cuộc đời tăm tối của mình. Hành động này đẩy tới hành động tiếp:  Mị chuẩn bị đi chơi. Mị "quấn tóc lại, với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách". Mị muốn thoát khỏi hiện thực đen tối của đời mình. Nhưng thật nghiệt ngã. Đến lúc sự hồi sinh lên đến cao trào thì A Sử về.  A Sử tàn nhẫn không cho Mị đi chơi. A Sử lấy dây thắt lưng và một thúng dây mây trói Mị vào góc nhà. Thế là hết. Sự hồi sinh trong tâm hồn Mị đã bị  chặn đứt.

- Dù bị A Sử trói đứng vào góc nhà, Mị quên hẳn sự có mặt của A Sử, quên hẳn mình đang bị trói, tiếng sáo vẫn dìu tâm hồn Mị "đi theo những cuộc chơi, những đám chơi". A Sử chỉ có thể trói buộc thể xác của Mị chứ không thể trói buộc tâm hồn Mị.

=> Tô Hoài đã đặt sự hồi sinh của Mị vào tình huống bi kịch: khát vọng mãnh liệt và hiện thực phũ phàng khiến cho sức sống ở Mị càng thêm  dữ dội. Qua đây, nhà văn muốn phát biểu một tư tưởng: sức sống của con người cho dù bị giẫm đạp, bị trói chặt vẫn không thể chết mà luôn luôn âm ỉ, chỉ gặp dịp là bùng lên.

 

III..Diễn biến tâm trạng  Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ:

Một trong những thành công của Tô Hoài là tác giả đã khắc họa tâm trạng nhân vật Mị một cách sâu sắc và tài tình. Trong đoạn Mị cởi trói cho A Phủ, Tô Hoài đã phát hiện và miêu tả thành công quá trình phát triển tâm lí phức tạp nhưng lôgic của nhân vật.

- A Phủ có hoàn cảnh thật đáng thương: mồ côi từ nhỏ, bị bán đổi lấy thóc nhưng anh trốn đi, rồi làm thuê. Anh là người có sức lực, lao động giỏi, tính tình phóng khoáng, yêu tự do, có tinh thần phản kháng cao. Thấy A Sử phá rối cuộc chơi của đám thanh niên, anh đã đánh A Sử. Anh bị phạt vạ và làm nô lệ để trừ nợ. Một lần, anh để mất một con bò, A Phủ bị trói đứng giống Mị ngày trước.

+  Mùa đông ở Hồng Ngài rất lạnh. “Đêm nào Mị cũng dậy thổi lửa hơ tay”. Trước cảnh A Phủ bị trói, ban đầu Mị hoàn toàn vô cảm: "Mị vẫn thản nhiên thổi lửa huơ ta".  Thậm chí “A Phủ là cái xác chết đứng đấy cũng thế thôi” bởi vì cảnh trói người ở nhà này đã diễn ra thường xuyên và đã quá quen thuộc với Mị. Sống trong cái khổ lâu ngày, tâm hồn Mị đã câm lặng, chai lì và vô cảm.. Bởi vì Mị sống mà như đã chết. Không có gì còn có ý nghĩa với Mị lúc này.

+ Thế rồi, trong đêm sau, lúc thức dậy thổi lửa , Mị bỗng nhìn thấy “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hỏm má đã xám đen lại”  của A Phủ. Trái tim đầy thương tích của Mị đã hồi sinh. Giọt nước mắt tuyệt vọng của A Phủ đã giúp Mị nhớ lại mình cũng đã bị trói đứng thế kia .Thương người đồng cảnh ngộ và thương mình, đồng thời Mị nhận ra  sự tàn ác dã man của nhà Thống lí “Chúng nó thật độc ác”. Mị tự nhủ: “Chỉ đêm mai là người kia chết. Người kia việc gì mà phải chết”. Mị thấy được sự đáng thương tội nghiệp của người đồng cảnh. Mị xót xa thương cảm.  Tất cả đã khiến cho hành động của Mị mang tính tất yếu.

+ Chứng kiến tình cảnh bi thảm của A Phủ, tình thương trong Mị lớn dần, không thể nhìn A Phủ chết . Mị bắt đầu hành động. “Mị rón rén bước lại, Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây…Mị chỉ thì thào được một tiếng: Đi ngay…rồi nghẹn lại”-> Những từ láy “rón rén, thì thào” cho thấy Mị hành động trong nỗi sợ hãi tột cùng.  Trong Mị có sự đối lập giữa sợ hãi và tình thương vì bọn thống lí như cái bóng ma đã từ lâu luôn  ám ảnh Mị, gieo rắc xuống cuộc đời Mị biết bao đau khổ. Nhưng tình thương yêu con người mạnh hơn nỗi sợ hãi đã thúc đẩy Mị. Mị cởi trói cho A Phủ.

+ Khi A Phủ chạy đi, Mị đứng lặng trong bóng tối”. Cái “đứng lặng” này là một khoảnh khắc đắn đo, trăn trở của Mị. Nó có tính chất vô cùng quan trọng. Đây là giây phút ngắn ngủi để Mị quyết định cho cuộc đời mìnhThật bất ngờ, sau đó “Mị cũng vụt chạy ra”…Trước sự sống và cái chết, Mị đã vì sự sống mà chạy theo A Phủ vì Mị ý thức rằng “ở đây thì chết mất”. Hành động này là kết quả tất yếu của sức sống tiềm tàng của Mị, đúng dịp là nó bùng lên quyết liệt. Cứu A Phủ có nghĩa là Mị tự giải phóng cho mình.  Hành động này đã góp phần dẫn Mị và A Phủ đến với cách mạng ở Phiềng Sa.

=> Khi sức sống tiềm tàng trong nhân vật được hồi sinh, nó sẽ là ngọn lửa không thể dập tắt. Nó chuyển thành hành động phản kháng táo bạo ở những nạn nhân của giai cấp thống trị, đứng lên chống lại cường quyền áp bức, chống lại sự chà đạp để cứu lấy cuộc đời mình.

*** SƠ KẾT :

- Tô Hoài đã thành công ở NT tả cảnh đậm đà màu sắc dân tộc miền núi độc đáo: tả cảnh thiên nhiên, cảnh sinh hoạt của con người lao động.

- Tô Hoài là người rất am hiểu về con người và cuộc sống Tây Bắc kể cả những phong tục tập quán.

- Ông xây dựng nhân vật Mị mang tính cách người Mông: âm thầm mà mãnh liệt, mộc mạc đơn sơ mà hết sức dữ dội. Đây là một điển hình cho người dân bị áp bức nhưng có sức sống mãnh liệt, biết tự giải thoát khỏi những áp bức bất công

- Ngôn ngữ truyện gần gũi, mộc mạc, tinh tế,  đậm đà màu sắc miền núi

- Nhiều chi tiết truyện hấp dẫn

- Cách kể chuyện lôi cuốn, hấp dẫn

- Cốt truyện giàu kịch tính, gây ấn tượng mạnh cho người đọc.

- Qua việc phân tích, ta thấy diễn biến tâm trạng Mị tưởng như đối lập nhưng lại thống nhất, phù hợp với qui luật phát triển tâm lí của con người.

-        Nhà văn đã dụng công miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật Mị. Qua đó để thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc, lớn lao.

 

            VỢ NHẶT

Kim Lân

I.TÌM HIỂU CHUNG:

- Kim Lân là nhà văn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Sở trường của ông là truyện ngắn.

-  Ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lý của những người dân nghèo cho nên viết rất chân thật về cuộc sống nghèo khổ thiếu thốn mà yêu đời, thật thà, chất phác của con người Việt Nam.

- Văn KL có ngôn ngữ mộc mạc, gần với đời thường nhưng gợi hình, gợi cảm và giàu sức lôi cuốn.

- “Vợ nhặt” được viết sau Cách mạng tháng Tám,  in trong tập “Con chó xấu xí”

- Tác phẩ tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật, thể hiện  bản chất tốt đẹp và sức sống kỳ diệu của người Việt Nam: ngay trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và yêu thương đùm bọc lẫn nhau, cùng hướng về tương lai tươi sáng.

- (Luận đề…)

II.ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

A.TÌNH HUỐNG TRUYỆN:

          Độc đáo được bộc lộ ngay trong nhan đề “Vợ nhặt”. Nhân vật Tràng nhà nghèo, xấu trai, là dân ngụ cư. Trong hoàn cảnh đói kém anh lại lấy được vợ một cách dễ dàng, chỉ cần có mấy lời tầm phào và vài bát bánh đúc. Đó là một tình huống éo le và thấm đẫm tình người làm mọi người ngạc nhiên và ái ngại. Cái giá của một con người thật rẻ rúng  càng làm tăng giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.

B.GIÁ TRỊ HIỆN THỰC (BỐI CẢNH ANH TRÀNG NHẶT ĐƯỢC VỢ)

_ Tác phẩm “Vợ Nhặt” đã phản ánh chân thật nạn đói khủng khiếp năm 1945 do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra, khiến hơn hai triệu đồng bào ta bị chết. Thảm họa đó được tác giả thu nhỏ lại qua hình ảnh xóm ngụ cư:

_ Quang cảnh xóm ngụ cư

 +Con người dở sống dở chết: Người chết như ngả rạà tác giả dùng hình ảnh so sánh để miêu tả cảnh người chết hàng loạt vì nạn đói.

 “Người sống xanh xám như những bóng maà Kim Lân sử dụng hình ảnh so sánh để miêu tả cái đói đã khiến con người tiều tụy, xơ xác. “Người nằm ngổn ngang khắp các lều chợ”, “trẻ con ngồi ủ rủ... không buồn nhúc nhích”   -> các từ láy “ngổn ngang”, “nhúc nhích” thể hiện cảnh người đói phải từ bỏ quê hương đi tha hương cầu thực. Trẻ con vốn hiếu động nhưng vì đói không còn đủ sức để hoạt động nữa.

  +Mùi vị ẩm thối: Mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người” cho thấy sự sống lụi tàn.

  +Âm thanh thê lương: Tiếng quạ trên cây gạo, ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết” cùng với “tiếng khóc hờ tỉ têà bằng hình ảnh nhân hóa tiếng quạ…gào lên + từ láy “thê thiết”, “tỉ tê”miêu tả âm thanh ghê rợn gợi sự chết chóc, tang thương

+ Bóng tối bao trùm: Hai bên dãy phố úp súp, tối om, không nhà nào có ánh đền, lửa”  à xóm ngụ cư chìm trong bóng tối vì người dân không có tiền mua dầu

è Quang cảnh xóm ngụ cư ngày đói như một đám tang lớn thê lương, ảm đạm. Trong tình cảnh đó, anh Tràng lại nhặt được vợ.

 

 C.GIÁ TRI NHÂN ĐẠO (HÌNH ẢNH NGƯỜI LAO ĐỘNG)

I. Nhân vật anh Tràng được miêu tả khá độc đáo:

1. Ngoại hình anh Tràng xấu xí, thô kệch:Cái đầu trọc nhẵn”, “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh ra”, “cái lưng to lớn như lưng gấu”à Bằng những hình ảnh giàu sức gợi tả, tác giả miêu tả ngoại hình  thiếu hài hòa của anh Tràng.

   2. Anh Tràng ăn nói thiếu duyên, cộc lốc vừa đi vừa nói lảm nhảm những điều hắn đang nghĩ” , “vừa nói vừa cười hềnh hệch” “làm đếch gì có vợ”.

3. Anh Tràng có hoàn cảnh bất hạnh

 + Nhà nghèo: dân ngụ cư, làm nghề kéo xe thóc thuê cho liên đoàn. Anh sống cùng người mẹ già trong “ cái nhà vắng teo, rúm ró trên mảnh vườn mọc lổm nhổm những búi cỏ dại”

+ Anh có vợ chỉ sau hai lần gặp gỡ ngắn ngủi và không qua cưới hỏi. Chị  lại là người phụ nữ bất hạnh, tứ cố vô thân không nơi nương tựa, đói cơm rách áo, ngay cả tên gọi cũng không có .

  1. Tràng có vẻ đẹp tâm hồn rất đáng quí:

a. Anh Tràng là người có tấm lòng nhân hậu:

_ Anh gặp chị lần đầu do một câu hò vu vơ

_ Anh gặp chi lần thứ hai: dù không dư giả anh vẫn sẵn sàng mời chị ăn bốn bát bánh đúc và một câu nói đùa “Có về với tớ thì khuân hàng lên xe rồi cùng về”. Khi chị nhất định theo anh, anh cũng lo sợ cho tương lai nhưng không đành lòng từ chối. Hôm ấy, anh dẫn chị vào chợ “mua cho chị một cái thúng con đụng vài thứ lặt vặt rồi đánh một bữa no nê” sau đó cùng nhau về nhà.

=> Anh Tràng là người giàu lòng yêu thương. Dù nghèo túng, anh vẫn mở lòng cưu mang, đùm bọc người cùng cảnh ngộ.

b. Anh Tràng là người khát khao hạnh phúc

* Trên đường về nhà:

_ Niềm sung sướng thể hiện rõ trên nét mặt:Tràng về với một người đàn bà. Mặt hán có vẻ gì phớn phở khác thường, hắn tủm tỉm cười một mình, hai con mắt sáng lấp lánhà hàng loạt những từ láy “phớn phở, tủm tỉm, lấp lánh” thể hiện niềm vui sung sướng rạng ngời trên nét mặt anh Tràng. Ánh mắt của anh khác hẳn khi chưa có vợ: “hai con mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều”

 _ Cử chỉ ngượng ngùng “ hắn định nói với thị một câu rõ tình tứ  mà chẳng biết nói thế nào, hắn cứ lúng ta lúng túng…đi bên người đàn bà”.

_ Anh Tràng cảm thấy hạnh phúc “có một cái gì mới mẻ lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy. Nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng tựa hồ có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng” → Nhà văn miêu tả rất chân thật và tinh tế những cảm xúc rất nhân bản của người đàn ông đang yêu.

_ Tràng quên đi thực tại túng quẫnTràng dường như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả đói khát ghê gớm đang đe dọa… Trong lòng hắn chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người dàn bà đi bên” → trong gian khổ đau thương thì hạnh phúc là điều đáng trân trọng nhất. 

c. Anh Tràng biết trân trọng hạnh phúc

_ Dù không dư giả anh vẫn dành hai hào mua dầu để thắp sángvợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ”. Hình ảnh ngọn đèn dầu không chỉ có ý nghĩa thắp sáng không gian, mà nó còn là dấu hiệu báo trước cuộc đời Tràng sẽ thay đổi từ đây.

* Về đến nhà:

_ Anh Tràng rất coi trọng sự kiện mình có vợ, tuy chỉ là “vợ nhặt”. Anh giới thiệu người “vợ nhặt” với mẹ thật dịu dàng và thân thiết “nhà tôi nó về làm bạn với tôi đấy u ạ”. Anh mời mẹ ngồi lên giường   rồi mới thưa chuyện.

d. Anh Tràng có ý thức trách nhiệm với gia đình

* Từ khi có vợ:

- Tràng bỗng chợt nhận ra xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi, mới mẻ, khác lạ”.   Người “vợ nhặt” đã đem đến cho gia đình anh một sinh khí mới . Thấy cảnh mẹ chồng, nàng dâu quét tước nhà cửa, anh rất xúc động và mong muốn  gia đình hạnh phúc

_ Hạnh phúc tình yêu đã làm Tràng thay đổi theo chiều hướng tốt:

  • Trước đây, nhìn nhà mình anh chỉ thấy đó là “cái nhà vắng teo, đứng rúm ró trên một mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”
  • Bây giờ, anh cảm   thấy yêu thương gắn bó với cái nhà  lạ lùng.  Tràng thấy mình “nên người” .Chính tình cảm vợ chồng đã nhen nhóm ngọn lửa yêu thương và ý thức trách nhiệm với gia đình của mình “hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này” → sau đó Tràng cũng “xăm xăm ra sân dọn dẹp nhà cửa”. Hành động, cử chỉ ấy đâu phải chỉ là một việc bình thường mà là một sự chuyển biến lớn.

e. Tràng biết  hy vọng ở tương lai. Trong tình cảnh túng đói nhưng anh không tuyệt vọng.

- Trong bữa cơm ngày đói chỉ có “ một lùm rau chuối   và một đĩa muối ăn với cháo” nhưng cả nhà vẫn ăn ngon lành.

- Bữa ăn có thêm món cháo cám đắng chát,  không khí bên ngoài căng thẳng ảm đạm, dễ nảy sinh tuyệt vọng nhưng Tràng cùng gia đình bàn tán chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật chia cho người đói.

- Trong ý nghĩ Tràng hiện lên hình ảnh “đám người đói và lá cờ đỏ trên đê Sộp” với cảm giác hối hận vì lúc đó không hiểu nên anh đã kéo xe đi lối khác à trong hoàn cảnh khốn cùng dù cận kề cái chết nhưng anh không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống và hy vọng vào tương lai

- “Trong óc Tràng vẫn hiện lên đám người đói và lá cờ đỏ phấp phới” là một kết thúc mở, mở ra lối ra đi tươi sáng cho những mảnh đời tăm tối. Chúng ta tin, anh Tràng sẽ đến với Việt Minh, với Cách mạng vì đó là con đường duy nhất, tất yếu, để anh có thể bảo vệ được hạnh phúc mà mình vừa có được.

=> Tóm lại: anh Tràng là người có số phận bất hạnh nhưng lại có một tâm hồn đẹp đẽ.

ĐÁNH GIÁ

v Nội dung:

         Qua nhân vật anh Tràng, truyện ngắn “Vợ Nhặt” không chỉ tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp và phát xit Nhật đã đẩy người nông dân nước ta vào tình cảnh thê thảm trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, mà còn thể hiện được bản chất tốt đẹp và sức sống kỳ diệu của người Việt Nam: Ngay trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khao khát tổ ấm gia đình và yêu thương đùm bọc nhau ,cùng hướng về tương lai tươi sáng.

v Nghệ thuật:

- Tg đã xd thành công nhận vật điển hình. Anh Tràng tiêu biểu cho người nông dân nghèo trước CM.

-  Tác giả đã xuất sắc tạo ra tình huống nhặt vợ độc đáo, cảm động của anh Tràng, một người nông dân nghèo khổ, xấu xí bỗng nhặt được vợ trong nạn đói (giá trị con người trở nên rẻ rúng)

- Tác giả miêu tả chân thật sinh động tâm lí nhân vật. Tràng từ “ngờ ngợ” đến “phớn phở khác thường” và “thấy mình nên người”

- Cách xây dựng truyện tự nhiên, đơn giản và chặt chẽ, trần thuật bằng dòng hồi tưởng của Tràng khi dẫn vợ về nhà và trần thuật bằng lời đối thoại giữa các nhân vật...

- Ngôn ngữ truyện gần với khẩu ngữ, có sự chọn lọc tinh tế...

2) Bà cụ Tứ :

          Bà cụ Tứ mang tâm hồn cao đẹp, lối sống bình dị, giản đơn, đôn hậu, luôn khao khát một ngày mai tươi đẹp mặc dù đang rơi vào hoàn cảnh nghiệt ngã của cuộc sống.

a .Hoàn cảnh đáng thương:

­ Đó là một người mẹ già nua, nghèo khổ, sống với người con trai trong túp lều xiêu vẹo, với một cuộc sống thật mong manh trong nạn đói tại  một xóm ngụ cư. “Ngoài đầu ngõ có tiếng người húng hắng ho, một bà lão từ ngoài rặng tre lọng khọng đi vào” .  Những từ láy làm hiện lên hình ảnh một người mẹ già yếu với cuộc sống  thật  khó khăn, vất vả.  Cũng như bao nhiêu người khác, Bà là nạn nhân của nạn đói khủng khiếp năm 1945 do Phát xít Nhật và thực dân Pháp gây ra.

b. Diễn biến tâm trạng  của bà được miêu tả rất tinh tế:

  • Lúc đầu: người mẹ ngạc nhiên bất ngờ  vì thấy trong nhà có ngưới đàn bà lạ, một người đàn bà không biết từ đâu đến.“Bà lão đứng sững lại, bà lão càng ngạc nhiên hơn”. Bà đã quen với cuộc sống chỉ có hai mẹ con từ trước đến giờ. Nay trong hoàn cảnh đói kém triền miên lại xuất hiện thêm người lạ về cùng con trai làm bà thật khó xử.
  • Khi hiểu ra người đàn bà lạ mà con trai mình đưa về sẽ là vợ của nó, tâm trạng của bà có nhiều cảm xúc lẫn lộn đan xen.(tủi, mừng, lo lắng, động viên, vun vén hạnh phúc)

     +Tủi thân, tủi phận:

- Bà tự xót thương cho số phận mình: buồn  vì nghèo nên không lo được đám cưới đàng hoàng cho con. “Bà lão cúi đầu nín lặng, hai dòng nước mắt trong kẽ mắt kèm nhèm”.Cưới hỏi là chuyện trọng đại cả đời người. Vậy mà bà không lo được cho con vì cuộc sống quá nghiệt ngã, cái nghèo đã khiến lòng bà quặn đau. “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi. Còn mình thì…”. Dấu ba chấm ở dòng độc thoại nội tâm cho thấy  lòng người mẹ thật cao cả. Xót thương cho mình cũng là xót thương cho con. Bà tự trách mình là người mẹ mà không lo được cho con.

      + Lo lắng cho con:  Bà tự hỏi: “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không ?”.Câu độc thoại nội tâm cho thấy bao lo lắng trăn trở diễn ra trong lòng người mẹ nghèo. Lòng người mẹ luôn hướng về con, luôn mong mỏi cho con có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Bà không suy nghĩ đến bản thân mình đang sống như thế nào. Người mẹ lúc nào cũng yêu thương, che chở, đùm bọc cho con mình.  Cái nghèo không chỉ đe dọa đến bữa ăn của con bà mà còn đe dọa đến cả tính mạng con bà nữa.

      + Mừng, thương con trai và con dâu:

- Sau chuỗi dài hờn tủi, lo lắng, Bà cụ Tứ như tự an ủi: “Người ta gặp bước khó khăn, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được”.Suy nghĩ thật khiêm tốn, nhân từ, bà chấp nhận sự thật nghèo khổ nhưng lại cảm thấy vui vì người đàn bà nọ đã chấp nhận lấy con mình. Bà hạnh phúc khi con mình có vợ cho dù đang trong cảnh đói kém. Người mẹ ấy  thật nhân từ , độ lượng biết bao!

-  Bà “nhẹ nhàng nói với nàng dâu mới: Ừ thôi thì các con phải duyên, phải kiếp với nhau, U cũng mừng lòng…”. Bà chấp nhận nàng dâu dù không qua cưới hỏi, bà bỏ qua định kiến khắt khe của xã hội, dịu dàng và ân cần với nàng dâu cũng như với con trai mình. Bà “mừng lòng” chứ không phải “bằng lòng”  thể hiện niềm vui trong lòng bà thể hiện ra hết với nàng dâu mới, người vợ sẽ chung sống cả đời với con trai bà. “Bà nhìn người đàn bà đầy lòng thương xót. Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi”.

       + Động viên, gieo vào lòng con niềm tin ở cuộc sống:

-  Bà nói: “Vợ chồng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra thì ông trời cho khá. Biết thế nào hả con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời… khi nào khá ta mua lấy đôi gà… ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy chốc có ngay đàn gà cho mà xem”. Câu văn thể hiện sự lạc quan, tin tưởng vào ngày mai tươi sáng. Bà nhẹ nhàng động viên, dạy bảo các con cách làm ăn, cách ăn ở: phải biết đặt niềm tin vào tương lai mặc dù phải chịu cảnh cơ cực, nghèo khó.

“Bà lão toàn nói chuyện vui, toàn chuyện sung sướng sau này”. Hiện thực nghèo đói và cái chết luôn rình rập đã không còn hiện hữu trong căn nhà của cụ Tứ nữaBà cụ Tứ đã quên đi cảnh túng quẫn khốn khó đang đe dọa. Bà chỉ còn thấy vui và hạnh phúc. Đơn giản là con trai bà đã nên gia thất – dẫu  không có cưới hỏi cho đàng hoàng. Bà đã có dâu. Người ta đã không chê gia cảnh nghèo nhà bà thì bà không thể cứ ưu tư buồn bã.

-> Tác giả miêu tả tinh tế tâm trạng phức tạp (vừa buồn lại vừa vui, vừa mừng lại vừa lo, vừa tủi thân lại vừa sung sướng…) của một bà mẹ nghèo nhân từ, độ lượng, bao dung hết lòng vì con.

        + Vui sướng và góp phần vun vén hạnh phúc cho con:

- “Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường. Bà lão xăm xắn thu dọn, quét tưới nhà cửa”  Nàng dâu mới như đã đem đến cho gia đình một sinh khí mới. Hai tính từ “nhẹ nhõm, tươi tỉnh” cho thấy bà thật sự rất hạnh phúc khi thấy con mình  hạnh phúc. Bà “xăm xắn” dọn dẹp nhà cửa với hi vọng nhà cửa quang đãng, sạch sẽ thì cuộc sống sẽ hấm khá hơn.  Bà không ngừng tin vào một ngày mai tốt đẹp.

- Trong bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới, Kim Lân miêu tả: “Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại… một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo” vẫn chưa no phải ăn thêm cháo cám” à Nhưng bà cười vui tíu tít để tạo không khí vui vẻ cho con.  Dường như với bà, tình cảm con người và hạnh phúc của con trai bà lúc này mới là quan trọng.  Bà quay mặt khóc khi nghe tiếng trống thúc thuế ngay trong bữa ăn đầu tiên của đôi vợ chồng mới. Hiện thực nghèo đói và áp bức bóc lột vẫn bủa vây lấy người mẹ nghèo tội nghiệp. Nhưng bà không muốn để  hai con trông thấy nỗi đau của mình. Nỗi đau ấy chỉ mình bà nén chặt vào trong.

 => Tg đã thể hiện chân thực, sắc sảo tâm trạng nhân vật: cố làm cho con vui, cố giấu nỗi đau luôn bị cái buồn ám ảnh, xâm nhập. Qua đó ta thấy tất cả  lòng yêu thương con và sự hi sinh cao cả của người mẹ.

3) Người vợ nhặt 

a. Hoàn cảnh  rất đáng thương, tội nghiệp:

-  Chị không có tên gọi. Đề cập đến người phụ nữ này, nhà văn khi thì gọi “người đàn bà”, khi thì gọi là “thị”, có lúc lại gọi là “người con dâu”.

- Không quê quán, đói cơm rách áo áo quần tả tơi như tổ đỉa, gầy xọp, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ thấy hai con mắt”

- Chị lấy Tràng chỉ nhờ một câu nói đùa và bốn bát bánh đúc mà chị “cắm đầu ăn liền một mạch”

b. Diễn biến tâm trạng của chị được miêu tả sâu sắc:

- Trước khi về với Tràng, người phụ nữ mang tâm lý của người sống vất vưởng nên chua ngoa, đanh đá,  ăn nói chỏng lỏn. Chị theo Tràng về làm vợ mà không có một nghi thức nào vì cả hai cùng nghèo. Với chị, đó là cảnh “vợ theo”, với anh, đó là người “vợ nhặt”

- Trên đường về nhà Tràng, chị cũng e lệ, thẹn thùng như bao người phụ nữ khác khi lấy chồng: “ngượng ngùng”, “kéo nghiêng vành nón”. Dù trong bất kì hoàn cảnh nào, chị vẫn mang những nét rất duyên của người phụ nữ Việt nam. 

- Về đến nhà chị nén một tiếng thở dài”, “nhếch mép cười nhạt nhẽo”, “ nét mặt bần thần khi ngồi ở mép giường” “hai con mắt thoáng tối lại khi ăn bát cháo cám” -> Người đàn bà thoáng lo lắng, xót xa, hạnh phúc xen lẫn buồn tủi khi thấy tình cảnh nhà chồng. Nhà văn vô cùng tinh tế trong việc thể hiện diễn biến tâm trạng của người phụ nữ bằng những chi tiết tưởng như chỉ thoáng qua

- Từ khi có mái ấm gia đình, tâm tính chị cũng thay đổi. Chị trở thành người phụ nữ “hiền hậu đúng mực”, chăm chút cho gia đình. Cuộc sống đã thổi vào tâm hồn chị một luồng gió mới.

- Chị còn là người am hiểu thời cuộc khi kể cho mẹ và chồng nghe cảnh người đói ở Thái Nguyên phá kho thóc Nhật. Nỗi khó khăn vẫn còn nhưng rõ ràng chị đã hướng về sự sống, hướng về tương lai.

=> Tóm lại: Chị là nạn nhân của nạn đói năm ấy. Cuộc sống đau thương khiến giá trị rẻ rúng. Khi sống trong tình thương yêu chị trở thành người phụ nữ hiền thục, khéo vén, đảm đang được mẹ chồng và chồng thương mến.

 

                                   

 

 

 

                                       CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

                                                          Nguyễn Minh Châu

I.Vài nét về tác giả

– Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989), quê ở làng Thơi, xã Quỳnh Hải (nay là xã Sơn Hải), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

– Đẩu năm 1950, ông gia nhập quân đội. Từ năm 1952 đến 1958, ông công tác và chiến đấu tại sư đoàn 320. Năm 1962, ông vê’ cồng tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Vãn nghệ quân đội.

– Sau 1975, khi văn chương chuyển hướng khám phá trở về với đời thường, Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Tâm điểm những khám phá nghệ thuật của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn tìm kiếm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách.

– Ông là một trong số những “nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học ta hiện nay” (Nguyên Ngọc). Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

*Tác phẩm chính: Dấu chân người lính (1972), Miền cháy (1977), Chiếc thuyền ngoài xa (1987).

 

II.Vài nét về tác phẩm

  1. Xuất xứ văn bản

Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Cái nhìn hiện thực đa chiều đã giúp cho nhà văn nhận ra đời sống con người cả ở những sự kiện bể nổi lẫn những khuất lấp trong bể sâu của nó, nhận ra cả những quy luật tất yếu lẫn những ngẫu nhiên, may rủi đẩy bất trắc và khó lường hết của đời sống. Ông luôn day dứt về việc con người phải chịu đựng, phải chấp nhận những nghịch lí mà lẽ ra không đáng có trong một cuộc sống vốn đã tốt hơn.

2. Bố cục

– Chia thành hai đoạn:

+ Đoạn 1: Từ đầu đến “chiếc thuyền với gió đã biến mất”: Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh.

+ Đoạn 2: Còn lại: Câu chuyện của người đàn bà hàng chài.

III.Nội dung cần nắm

1. Phát hiện thứ nhất đầy thơ mộng của người nghệ sĩ

– “Trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu… tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự hoàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”.

+ Đôi mắt tinh tường “nhà nghề” của người nghệ sĩ đã phát hiện vẻ đẹp trời cho trên mặt biển mờ sương, vẻ đẹp mà cả đời bấm máy anh chưa từng bắt gặp. Người nghệ sĩ cảm thấy hạnh phúc – đó là niềm hạnh phúc của sự khám phá và sáng tạo, của sự cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu. Trước hình ảnh của chiếc thuyền ngoài xa giữa biển trời mờ sương, anh đã cảm nhận cái đẹp toàn bích, hài hoà, lãng mạn của cuộc đời, thấy tâm hổn mình như được thanh lọc, gột rửa.

– Cảm hứng triết lí về nghệ thuật:

+ Vẻ đẹp của “cái đẹp tuyệt đỉnh”:  Nghệ thuật là sự giản dị, tự nhiên.

+ “Cái đẹp là đạo đức”: Khoảnh khắc phát hiện ra một tác phẩm độc đáo là sự “khám phá chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”.

—» Cái đẹp “thanh lọc” tâm hồn, để tâm hồn con người cao khiết, không gợn đục, thánh thiện.

*Sự phát hiện ra cái đẹp trong nghệ thuật đôi khi là sự kết hợp của rung động và duyên may. Nhìn ở góc độ này, nó là thứ dẫu sao còn tương đối dễ phát hiện, dễ thấy.

2. Phát hiện thứ hai đẩy nghịch lí của người nghệ sĩ nhiếp ảnh

 Điểm nhìn: Chiếc thuyền đâm thẳng vào chỗ trước tôi đứng —» gần, trực diện, rõ nét.

– Hình ảnh:

+ Người đàn bà: Cao lớn, với những đường nét thô kệch, mặt rỗ, vẻ mặt mệt mỏi (…) tái ngắt và dường như đang buồn ngủ, tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới.

+ Người đàn ông: Tấm lưng rộng và cong, mái tóc tổ quạ, chân đi chữ bát, hàng lông mày cháy nắng, hai con mắt đẵy vẻ độc dữ.

—» Hình ảnh xấu xí, xù xì, trần trụi, thô mộc, gai góc của đời sống, đối lập với vẻ lãng mạn của khung cảnh thiên nhiên trong bức ảnh nghệ thuật.

– Hành động:

+ Người chồng: Hùng hổ rút chiếc thắt lưng, “chẳng nói chẳng rằng” quật tới tấp vào lưng người đàn bà —» hành động hung bạo, dã man, lạnh lùng như một con thú dữ.

+ Người vợ: Cam chịu đẩy nhẫn nhục, không hề kêu lên một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn.

+ Đứa con: Giằng thắt lưng, quật lại bố để bảo vệ mẹ.
—> Giống như một vở kịch câm, không lời chú giải, đầy nghịch lí khiến câu hỏi về hiện thực trong Phùng như muốn vỡ ra.

*Phát hiện về một hiện thực gồ ghề, gai góc, ngang trái, phức tạp, không dễ lí giải, khác xa, thậm chí đối lập với vẻ đẹp bình yên của tác phẩm nhiếp ảnh.

3. Mối quan hệ giữa hai phát hiện (mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, giữa nhà văn và cuộc đời)

– Phát hiện nghệ thuật, ở một chừng mực nhất định dễ thấy hơn phát hiện về hiện thực.

– Đời sống con người vốn bề bộn, phức tạp. Hiện thực không giản đơn, toàn màu hồng mà đa chiều, phân tranh nhiều mảng sáng tối không dễ lí giải. Nhà văn nếu đứng ở ngoài xa để quan sát sẽ chỉ thấy một hiện thực mờ ảo – chiếc thuyền thấp thoáng biển khơi. Từ đó đòi hỏi nhà văn phải có cái nhìn sâu sắc, suy tư đa chiều hơn nữa.

IV. Về các nhân vật trong truyện

a. Người đàn bà hàng chài và câu chuyện đời tự kể

– Hình dáng: Thô mộc, xấu xí, như nét vẽ vội của tạo hoá, mang những đặc trưng của một người đàn bà miền biển lam lũ.

– Thái độ, hành động khi được mời tới toà án:

+ Sợ sệt, lúng túng, tìm đến một góc tường để ngồi.

+ Rón rén ngồi ghé vào chiếc ghế mà Đẩu mời.

+ Van xin chính quyển đừng bắt chị bỏ người chổng vũ phu: “Quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”.

—» Kiên quyết không bỏ chồng bằng mọi giá.

+ Hành động ẩn chứa nhiều nghịch lí, gây bất ngờ đối với cả Đẩu và Phùng

—» Một sự thật không dễ lí giải trong hoàn cảnh người đàn bà phải chịu đựng những trận đánh thừa sống thiếu chết. (Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng).

—» Câu hỏi đặt ra: Điều gì khiến người đàn bà khốn khổ ấy tha thiết bám víu cuộc sống địa ngục kinh hoàng với người chồng hung bạo?

– Câu chuyện cuộc đời:

+ Cách xưng hô: Con, quý toà – chị, các chú —»thay đổi tương quan: bị động, yếu thế, thiếu tự tin, bề dưới nói với bê’ trên —» chủ động, bình đẳng, con người có hiểu biết nói với người đang lắng nghe.

+ Nội dung câu chuyện:
• Xấu, buộc phải lấy anh làng chài.
• Đám đàn bà đẻ nhiều quá, mà thuyên lại chật.
• Bất kể lúc nào khổ quá, chổng lại lôi ra đánh, ngay trên thuyền, sau này xin mãi mới được lên bờ chịu đòn.
• Lí lẽ để “đừng bắt tôi bỏ nó”: Vì cần có một người đàn ông chèo lái và ở trên thuyền cũng có lúc vợ chổng con cái sống hòa thuận, vui vẻ.
• Giá đẻ ít đi -> biện minh cho hành động hung hăng của chổng bằng cách chỉ ra lỗi thuộc về sự nghèo đói, lạc hậu, “đẻ lắm”.
• Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết nỗi vất vả của một người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông (…) những khi biển động.
—» Vì cần một trụ cột.
• Đàn bà trên thuyền phải sống cho con chứ không thể sống cho mình.
—» Vì trách nhiệm, tấm lòng vị tha, bản năng hi sinh của một người mẹ.
• Cũng có lúc vợ chổng con cái sống hòa thuận, vui yẻ.
—» Cuộc sống với người đàn ông “dã man” kia không phải không có những khoảnh khắc đầm ấm hạnh phúc.

* Qua nội dung câu chuyện, cách kể và ngôn ngữ kể chuyện, người đọc thấy được:

– Số phận người đàn bà: Đau khổ, bất hạnh, buộc phải bảo vệ, duy trì một cuộc sống bị đày đoạ, đánh đập.

– Tính cách: Yêu thương con, vị tha, nhân hậu, am hiểu lẽ sống giản đơn của một người đàn bà hàng chài.

– Sự lí giải, làm sáng tỏ hiện thực đời sống đầy nghịch lí mà Phùng và Đẩu “không thể hiểu được”.

b. Về người đàn ông vũ phu

Cuộc sống đói nghèo đã biến “anh con trai” cục tính nhưng hiển lành xưa kia thành một người chồng vũ phu. Lão đàn ông có “mái tóc tổ quạ”, “chân chữ bát”, hai con mắt đầy vẻ độc dữ vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên đau khổ cho người thân của mình. Phải làm sao để nâng cao cái phần thiện, cái phần người trong những kẻ thô bạo ấy?

c. Chị em thằng Phác

Bị đẩy vào tình thế khó xử khi ở trong hoàn cảnh ấy. Chị thằng Phác, một cô bé yếu ớt mà can đảm, đã phải vật lộn để tước con dao trên tay thằng em trai, ngăn em làm việc trái luân thường đạo lí. Cô bé là điểm tựa vững chắc của người mẹ đáng thương, cô đã hành động đúng khi cản được việc làm dại dột của đứa em, lại biết chăm sóc, lo toan khi mẹ phải đến toà án huyện. Thằng Phác thương mẹ theo kiểu một cậu bé còn nhỏ, theo cái cách một đứa bé trai vùng biển. Nó “lặng đưa mấy ngón tay sờ lên khuôn mặt người mẹ, như muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chẵng chịt”, “nó tuyên bố với các bác ở xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt ở biển này thì mẹ nó không bị đánh”. Hình ảnh thằng Phác khiến người đọc cảm động bởi tình thương mẹ dạt dào.

d. Người nghệ sĩ nhiếp ảnh

Vốn là người lính thường vào sinh ra tử, Phùng căm ghét mọi sự áp bức, bất công, sẵn sàng làm tất cả vì điều thiện, lẽ công bằng. Anh xúc động ngỡ ngàng trước vẻ đẹp tinh khôi của thuyền biển lúc bình minh. Một người nhạy cảm như anh tránh sao khỏi nỗi tức giận khi phát hiện ra cảnh đẹp huyền ảo trên biển. Hơn bao giờ hết Phùng hiểu rõ: trước khi là một nghệ sĩ rung động trước cái đẹp phải là một người biết yêu ghét vui buồn trước mọi lẽ đời thường, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người.

5. Cách xây dựng cốt truyện độc đáo

Trong tác phẩm, đó là sự kiện Phùng chứng kiến lão đàn ông đánh vợ một cách tàn bạo. Trước đó, anh nhìn đời bằng con mắt người nghệ sĩ, rung động, say mê trước vẻ đẹp huyền ảo, thơ mộng của thuyền biển. Trong giây phút tâm hồn thăng hoa những cảm xúc lãng mạn, Phùng phát hiện ra hiện thực nghiệt ngã của đôi vợ chổng bước ra từ con thuỵển “thơ mộng”.

Tình huống đó được lặp lại lần nữa: Bên cạnh người đàn bà nhẫn nhục, chịu đựng “đòn chồng”, Phùng còn được chứng kiến phản ứng của chị em thằng Phác trước sự hung bạo của người cha đối với mẹ. Từ đó, trong người nghệ sĩ đã có sự thay đổi cách nhìn đời. Anh thấy rõ những cái ngang trái trong gia đình thuyền chài, hiểu sâu thêm về người đàn bà, chị em thằng Phác, hiểu thêm người đồng đội Đẩu và hiểu thêm chính mình.

Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được tình huống mà ở đó bộc lộ mọi mối quan hệ, bộc lộ khả năng ứng xử, thử thách phẩm chất, tính cách, tạo ra những bước ngoặt trong tư tưởng, tình cảm và cả trong cuộc đời nhân vật. Tình huống truyện mang ý nghĩa khám phá, phát hiện đời sống.

6. Ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm

– Ngôn ngữ người kể chuyện: Thể hiện qua nhân vật Phùng, sự hoá thân của tác giả. Chọn người kể chuyện như thế đã tạo ra một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng cường khả năng khám phá đời sống, lời kể trở nên khách quan, chần thật, giàu sức thuyết phục.

– Ngôn ngữ nhân vật: Được cá thể hóa, phù hợp với đặc điểm tính cách của từng người. (Ngôn ngữ của người đàn bà: lóng ngóng, van lơn khi mới đối diện với “quý toà”; chững chạc, thấu trải khi tự kể câu chuyện đời mình; dịu dàng, xót xa khi nói với con; lời lẽ của người đàn ông: tàn nhẫn, cục cằn,..

 

 

                                                  

 

 

                      SỐ PHẬN CON NGƯỜI

                   Sô – Lô – Khốp

I.Một vài nét về tác giả

A. Sô-lô-khốp (1905-1984) là nhà văn Xô viết lỗi lạc, được vinh dự nhận giải thưởng Nô-ben về Văn học năm 1965 (ông còn được nhận giải thưởng Lê-nin, Giải thưởng văn học quốc gia.

- Cuộc đời và sự nghiệp của Sô-lô-khốp gắn bó mật thiết với sự ra đời của một chế độ-chế độ xã hội chủ nghĩa tại vùng đất sông Đông trù phú, đậm đà bản sắc văn hoá người dân Cô-dắc.

 

- Là nhà văn xuất thân từ nông dân lao động, Sô-lô-khốp am hiểu và đồng cảm sâu sắc với những con người trên mảnh đất quê hương. Đặc điểm nổi bật tròn chủ nghĩa nhân đạo của Sô-lô-khốp là việc quan tâm, trăn trở về số phận của đất nước, của dân tộc, nhân dân cũng như về số phận cá nhân con người.

 

- Phong cách nghệ thuật của Sô-lô-khốp: nét nổi bật là viết đúng sự thật. Ông không né tránh những sự thật dù khắc nghiệt trong khi phản ánh những bức tranh thời đại rộng lớn, những cảnh đời, những chân dung số phận đau thương. Trong sáng tác của ông, chất bi và chất hùng, chất sử thi và chất tâm lí luôn được kết hợp nhuần nhuyễn.

 

- Những tác phẩm tiêu biểu:

+ Sông Đông êm đềm: 1927.

+ Đất vở hoang I: 1932.

+ Đất vỡ hoang II: 1959.

+ Số phận con người: 1956.

II.Một vài nét về tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác

– Hoàn cảnh sáng tác: tác phẩm được viết từ khi chiến tranh thế giới kết thúc năm 1957, tinh thần dân chủ tràn ngập nước Nga. Đồng thời khi đó văn học nghệ thuật đi sâu vào thâm nhập tìm hiểu đời sống số phận con người.
– Thể loại: tiểu thuyết anh hùng ca.

b. Tóm tắt.

Truyện Số phận con người ra đời năm 1956 là một trong những sáng tác xuất sắc của M. Sô-lô-khốp những năm sau chiến tranh. Truyện khai thác đề tài số phận con người sau chiến tranh qua cuộc đời nhân vật Xô-cô-lốp. Truyện gồm hai phần: mở đầu, kết thúc và ba chương. Xô-cô-lốp là một cậu bé mồ côi, chăm chỉ. Lớn lên lấy vợ và có một gia đình hạnh phúc với hai con gái và một cậu con trai - một học sinh giỏi toán.

       Chiến tranh bùng nổ anh tham gia Hồng quân rồi bị phát xít bắt giam. Vợ và hai con gái đã bị bom phát xít chôn vùi cùng với ngôi nhà. Thoát khỏi nhà tù phát xít, anh đã vô cùng hạnh phúc khi nhận được tin cậu con trai đang là đại uý pháo binh, một sĩ quan dũng cảm. Sắp tới ngày chiến thắng hai cha con hẹn gặp nhau. Anh hồi hộp và chờ đợi giờ phút ấy. Và anh đã được gọi đến để nhìn mặt con lần cuối. Con trai anh đã hy sinh vào đúng ngày chiến thắng. Anh vô cùng đau đớn khi phải "chôn trên đất người niềm vui sướng, niềm hy vọng cuối cùng" của mình.

      Trở về cuộc sống thường nhật với một nỗi đau và sự mất mát quá lớn Xô-cô-lôp lang thang kiếm sống khắp nơi. Anh kiếm được chân lái xe cho đội vận tải lương thực. Và anh đã gặp cậu bé Va-ni-a bị lạc mất bố mẹ trong chiến tranh. Thương cậu bé cùng cảnh, anh nhận cậu bé làm con nuôi, còn cậu bé lại tưởng anh là cha đẻ của nó. Hai người đã dựa vào nhau mà sống. Từ đó anh thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn cho dù sự có mặt của Va-ni-a chưa đủ để làm vơi nỗi đau trong anh. Rồi một điều không may xảy ra, một con bò đâm vào xe Xô-cô-lôp làm anh bị tước mất bằng lái. Hai cha con tạm biệt vợ chồng người bạn rồi dắt nhau đi tìm một vùng đất mới. Đoạn trích thuộc phần cuối tác phẩm, bắt đầu từ khi Xô-cô-lôp trở về từ đám tang con trai với nỗi đau vô tận, rồi anh gặp và nhận Va-ni-a làm con cho đến kết thúc tác phẩm.

      Tác phẩm là câu chuyện cảm động về số phận con người trong và sau chiến tranh. Nhà văn đã thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của mình đối với số phận con người, qua đó ngợi ca tính cách Nga nhân hậu, kiên cường và bất khuất.


- Nhân vật trung tâm: Xô-cô-lốp và Va-ni-a

- Nhân vật chính của truyện là An- đrây Xô cô lốp - từng là một người lính Xô -viết . Anh đã kể cho tác giả nghe về cuộc đời đau khổ của mình ...

c. Giá trị.

- Tác phẩm là cột mốc quan trọng mở ra chân trời mới cho văn học Xô Viết.

- Truyện có một dung l­ượng tư­ tưởng lớn khiến cho có ng­ười liệt nó vào loại tiểu anh hùng ca.

d. Vị trí đoạn trích.

Thuộc phần cuối truyện kể về quãng đời sau chiến tranh của sô-cô-lốp.



III.Nội dung cần nắm

1. Chiến tranh và thân phận con người. 

a) Hình tượng Xô-cô-lốp.

* Trong chiến tranh.

+ Là một chiến sĩ Hồng Quân kiên cường, khí phách.

+ Qua lời nói của tên chỉ huy Đức khi anh bị bắt làm tù binh.

Mày là một thằng lính Nga chân chính. Tao cũng là lính tao trọng những địch thủ có khí tiết. Tao sẽ không bắn mày.

+ Chiến đấu bị thương hai lần.

+ Bị đày đọa trong trại tập trung của phát xít Đức vẫn giữ khí phách anh hùng của người Lính Xô Viết.

+ Vợ và con gái bị bom giết hại từ 1942.

+ Con trai A-na-tô-li một học sinh giỏi toán, đại úy pháo binh, hy sinh trong ngày chiến thắng tại Béc lin. 

=> Chịu nhiều đau thương cay đắng đối diện với nỗi đau cùng cực

 

* Sau chiến tranh(Trước khi gặp bé Va-ni-a)

 

- Hoàn cảnh:

“ Tôi đã chôn trên đất người........ cuối cùng của tôi” chịu trăm ngàn cay đắng.

+ Không vợ con, không nhà cửa không hy vọng không trở về quê hương.

+ Anh sống nhờ bạn để tìm kế sinh nhai nhưng không gặp may, bị mất việc, anh mượn rượu để giải sầu.

=> Chiến tranh đã tước đoạt những gì quý giá nhất:quê hương,gia đình,niềm hạnh phúc,niềm hi vọng.

- Tâm trạng:

+ Vỡ tung, mất hồn, Rơi vào nỗi đau cùng cực Âm thầm chịu đựng.

+ Sống như người lao động bình thường.

+ Tìm đến rượu để giảm và quên hết nỗi đau Bế tắc.

+ Những giọt nước mắt: nỗi đau không thể diễn tả bằng lời

+ Dù gặp nhiều đau khổ nhưng anh không bao giờ than vãn=> anh là người kiên cường (tính cách Nga).

 

 

 

 

b. Bé Va-ni-a

 

–Cậu bé xuất hiện trong một bộ dạng vô cùng thảm thương.
–Một cậu nhóc bé tí mà quần áo rách bươm xơ mướp suốt ngày lang thang ai cho gì thì ăn cái nấy.

- Đôi mắt "như ngôi sao sáng ngời".

- Sự ngây thơ, tội nghiệp, không nơi nương tựa- nạn nhận tội nghiệp của thời chiến.

-> Cả hai người một lớn một bé đều rơi vào hoàn cảnh giống nhau đó là mất hết người thân chỉ còn một mình sống trên cõi đời này. Hậu quả của chiến tranh để lại vô cùng lớn không chỉ là nỗi đau về da thịt mà còn là nỗi đau về tinh thần.

Hai người đến bên nhau đùm bọc cưu mang nhau cùng vượt lên số phận.

* Nhận Va-ni-a làm con nuôi:

- "không thể để cho mình với nó chìm nghỉm riêng lẻ được, mình phải nhận nó là con" => Hai con ngời không nơi nương tựa phải dựa vào nhau trong cuộc sống. Đây là quyết định bột phát, xuất phát từ lòng thương người không tính toán.

- Từ sau khi nhận bé Va-ni-a làm con nuôi:

+ Tâm hồn anh nhẹ nhõm, bừng sáng lên.

+ Anh chăm sóc bé chu đáo, thương nó như cha con: Đêm đêm khi nhìn thấy nó ngủ anh như quên hết nỗi cô đơn quên sự buồn phiền và có động lực làm việc để cho nó có một cuộc sống tốt.

 Anh vơi bớt nỗi cô đơn, tìm thấy hạnh phúc trái tim "chai sạn vì đau khổ, nay trở nên êm dịu hơn..."

+ Bé Va-ni-a cũng rất thương anh và cần đến anh :Vania thì sung sướng, yêu thương Xô cô Lốp hôn lên mặt mũi và ôm mãi anh không rời.

Hai con người đau khổ đã nương tựa, sưởi ấm cho nhau.

Tình cảm của Xô-cô-lốp đối với bé Va-ni-a là niềm vui, niềm hạnh phúc của một trái tim đang phục hồi; tình cảm của Va-ni-a đối với Xô-cô-lốp là tình cảm gắn bó quyến luyến của một đứa bé đã tìm thấy nơi nương tựa.Có thể nói với tình yêu thương con người, với tình cảm đồng cảnh ngộ họ đã vượt qua khó khăn vượt qua nỗi đau sau chiến tranh để sưởi ấm cho nhau bằng tình yêu thương thân ái.

* Việc nhận bé Va-ni-a làm con nuôi làm Xô-cô-lốp vơi bớt nỗi cô đơn nhưng trái tim anh vẫn không trở lại được như xưa:

- Đêm nào anh cũng mơ thấy người thân quá cố.

- Ban đêm thức giấc nước mắt ước đẫm cả gối.

- Nỗi buồn đau khiến anh không ở yên một chỗ được.

=> Những đau thương, mất mát do chiến tranh gây ra không gì bù đắp nổi, thời gian cũng không xoa dịu được vết thương lòng của anh.

2. Suy nghĩ của Sô-lô-khốp về số phận con người:

- Đoạn kết ca ngợi con người Nga, tính cách Nga nghị lực kiên cường trong cuộc đời đầy khó khăn sau chiến tranh. Qua đó, tác giả nhắc nhở mọi người quan tâm đến con người, đặc biệt là người lính trở về sau chiến tranh.

- Ca ngợi trái tim nhân hậu của Xô-cô-lốp rực sáng trong thế giới hậu chiến đầy hận thù và đau khổ.

- Tính cách Nga hoà hợp trong hai phẩm chất : cứng rắn và mềm dịu của tâm hồn, ý chí kiên cường và lòng nhân ái.

IV. Tổng kết.

Đoạn trích đã tố cáo hậu quả của chiến tranh, tố cáo tội ác của những kẻ gây ra chiến tranh. Những người vốn dĩ được sống hạnh phúc thì vì chiến tranh mà không còn có ai ở bên cạnh. Họ gặp nhau dùng con tim của mình để sưởi ấm cho nhau. Có thể nói đây là một tác phẩm thành công của nhà văn Xô Lô Khốp.



NGHỊ LUẬN VÈ MỘT TÁC PHẨM, MỘT ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI

I.Kiến thức cơ bản

1. Cách làm nghị luận một tác phẩm văn học

– Đọc tìm hiểu, khám phá nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.

– Đánh giá giá trị của tác phẩm.

2. Cách làm nghị luận một khía cạnh một tác phẩm văn học

– Cần đọc kĩ và nhận thức được khía cạnh mà đề yêu cầu.

– Tìm và phân tích những chi tiết phù hợp vói khía cạnh mà đề yêu cầu.

3. Cách làm bài văn nghị luận vê một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi

– Có đề nêu yêu cầu cụ thể, bài làm cần tập trung đáp ứng các yêu cầu đó.

– Có đề học sinh tự chọn nội dung viết, cần phải khảo sát và nhận xét toàn truyện. Sau đó chọn ra hai, ba điểm nổi bật nhất, sắp xếp theo thứ tự hợp lí để trình bày. Các phần khác nói lướt qua. Như thế bài làm sẽ nổi bật phần trọng tâm, không lan man.

II.Các bước làm bài văn nghị luận về một tác phẩm một đoạn trích văn xuôi
1.Bước 1:Phân tích đề - xác định yêu cầu của đề

+ Xác định dạng đề

+ Yêu cầu nội dung ( đối tượng )

+ Yêu cầu về phương pháp

+ Yêu cầu phạm vi tư liệu dẫn chứng

2.Bước 2:Lập dàn ý – tìm ý – sắp xếp ý: theo bố cục 3 phần

-Mở bài:

+ Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm đoạn trích văn xuôi cần nghị luận

+ Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

 

-Thân bài:

   Phân tích những giá trị nội dung nghệ thuật tác phẩm, đoạn trích để làm rõ vấn đề cần nghị luận hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của đoạn trích.

-Kết bài:

Đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích

3.Bước 3:Viết bài

+ Dựa theo dàn bài đã xây dựng viết thành bài văn hoàn chỉnh

+Chú ý viết đoạn văn phải làm nổi bật luận điểm và chứng minh bằng những luận cứ rõ ràng. Các đoạn phải có liên kết chuyển tiếp nhau.

4.Bước 4: Kiểm tra, chỉnh sửa

III.Luyện tập

Đề 1: Phân tích truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan.

a. Gợi ý tìm hiểu đề

Đặc sắc của kết cấu truyện: Truyện gồm những cảnh khác nhau tưởng như rời rạc (cảnh van xin, đút lót, thuê người đi thay, bị áp giải đi xem đá bóng), nhưng thật ra đều tập trung biểu hiện chủ đề: bọn quan lại cầm quyền cưỡng bức dân chúng để thực hiện một ý đồ bịp bợm đen tối.

Mâu thuẫn và tính chất trào phúng của truyện:

   + Việc xem đá bóng vốn mang tính chất giải trí bỗng thành một tai hoạ giáng xuống người dân.

   + Sự tận tụy, siêng năng thực thi lệnh trên của lí trưởng đã gặp phải mọi cách đối phó của người dân khốn khổ.

Đặc điểm của ngôn ngữ truyện:

   + Ngôn ngữ người kể chuyện: rất ít lời, mỗi cảnh có khoảng 2 dòng, như muốn để người đọc thiểu lấy ý nghĩa.

   + Ngôn ngữ các nhân vật: lời đối thoại rất tự nhiên, sinh động, ... thể hiện đúng thân phận và trình độ của họ. Ngôn ngữ của lí trưởng không mang kiểu cách hành chính nào cả ... . Qua ngôn ngữ các nhân vật, người đọc có thể hình dung đó là một xã hội hỗn độn.

Giá trị hiện thực và ý nghĩa phê phán của truyện: Tác giả dùng bút pháp trào phúng để châm biếm trò lừa bịp của chính quyền. Nội dung truyện không phải hoàn toàn bịa đặt. Để tách người dân khỏi ảnh hưởng của các phong trào yêu nước, thực dân Pháp đã bày ra các trò thể dục thể thao (đua xe đạp, thi bơi lội, đấu bóng đá) để đánh lạc hướng. Do đó truyện này có ý nghĩa hiện thực, có giá trị châm biếm sâu sắc.

b. Gợi ý xây dựng dàn bài

Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về truyện ngắn Tinh thần thể dục của nhà văn Nguyễn Công Hoan.

Thân bài: Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn Tinh thần thể dục: kết cấu truyện độc đáo, mâu thuẫn trong truyện nhiều dạng vẻ và ý nghĩa của cái cười trong truyện ngắn Tinh thần thể dục.

Kết bài: Qua tác phẩm, cần thấy được mối quan hệ giữa văn học và thời sự; văn học và sự thức tỉnh xã hội.



 

 

 

 






       




 

   :: Các tin khác

 
Điện thoại : 0511.3691445 - 0511.3656697 * Email: quangtrung.thpt@yahoo.com
* - Website: thptquangtrung.vn * Website : thpt-quangtrung-danang.edu.vn